‹ Danh sách văn bản
5/2026/VBHN-TT-BVHTTDL Văn bản hợp nhất Lĩnh vực khác

Văn bản hợp nhất 5/2026/VBHN-TT-BVHTTDL hợp nhất Thông tư quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành

Chưa rõ hiệu lực

VĂN BẢN HỢP NHẤT

Số: 5/2026/VBHN-TT-BVHTTDL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

 

Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2026

 

THÔNG TƯ

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THỰC HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH TRONG VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG VÀ LỄ HỘI

Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21 tháng 01 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2011, được bãi bỏ một phần bởi:

1. Thông tư số 30/2018/TT-BVHTTDL ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018;

2. Thông tư số 05/2019/TT-BVHTTDL ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2019.

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Căn cứ Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng;

Căn cứ Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;

Căn cứ Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

Căn cứ Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội như sau:[1]

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được tổ chức trong phạm vi cả nước.

2. Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào việc cưới, việc tang và lễ hội tại Việt Nam.

Điều 2. Những nguyên tắc trong tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội

Tổ chức, cá nhân khi tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1. Không trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc; không để xảy ra các hoạt động mê tín dị đoan.

2. Không lợi dụng việc cưới, việc tang và lễ hội để hoạt động nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, dòng họ và gia đình.

3. Không làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông và trật tự, an toàn công cộng.

4. Không tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức.

5. Không được sử dụng thời gian làm việc và phương tiện của cơ quan đi đám cưới, lễ hội (trừ cơ quan làm nhiệm vụ); không sử dụng công quỹ của cơ quan làm quà mừng, quà tặng trong đám cưới và viếng đám tang.

Chương II

NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Mục 1. Nếp sống văn minh trong việc cưới

Điều 3. Tổ chức việc cưới

Việc cưới phải được tổ chức theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Điều 4. Đăng ký kết hôn

1. Đôi nam nữ để trở thành vợ chồng phải đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai người theo quy định của pháp luật.

2. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức việc đăng ký kết hôn theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Điều 5. Trao giấy chứng nhận kết hôn

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tổ chức trao giấy chứng nhận kết hôn cho đôi nam nữ đã hoàn thành thủ tục đăng ký kết hôn, thể hiện sự thừa nhận kết hôn hợp pháp của Nhà nước và pháp luật.

Điều 6. Tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc tại địa điểm cưới

1. Việc tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc tại địa điểm cưới phải thực hiện các quy định sau:

a) Đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, vui tươi, lành mạnh, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá của từng địa phương, dân tộc, tôn giáo và phù hợp với hoàn cảnh của hai gia đình;

b) Các thủ tục chạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu cần được tổ chức theo phong tục, tập quán; không phô trương hình thức, rườm rà; không nặng về đòi hỏi lễ vật;

c)[2] (được bãi bỏ);

d) Tổ chức tiệc cưới phù hợp với hoàn cảnh gia đình, tránh phô trương, lãng phí;

đ) Trang trí lễ cưới cần giản dị, không rườm rà, phô trương; trang phục cô dâu, chú rể đẹp và lịch sự, phù hợp với văn hoá dân tộc;

e) Âm nhạc trong đám cưới phải lành mạnh, vui tươi; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam thực hiện tại bản tiêu chuẩn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 2351/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 5 tháng 12 năm 1998 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ); không mở nhạc trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm.

2. Khuyến khích thực hiện các hoạt động sau trong tổ chức việc cưới:

a) Dùng hình thức báo hỷ thay cho giấy mời dự lễ cưới, tiệc cưới;

b) Hạn chế tổ chức tiệc cưới linh đình, chỉ tổ chức tiệc trà, tiệc ngọt trong lễ cưới;

c) Không sử dụng thuốc lá trong đám cưới;

d) Cơ quan, tổ chức, đoàn thể đứng ra tổ chức lễ cưới;

đ) Cô dâu, chú rể và gia đình đặt hoa tại đài tưởng niệm liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, di tích lịch sử - văn hoá; trồng cây lưu niệm tại địa phương trong ngày cưới;

e) Cô dâu, chú rể và gia đình mặc trang phục truyền thống hoặc trang phục của dân tộc mình trong ngày cưới.

Mục 2. Nếp sống văn minh trong việc tang

Điều 7. Tổ chức việc tang

Việc tang phải được tổ chức theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về y tế và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Điều 8[3]. (được bãi bỏ)

Điều 9. Trách nhiệm tổ chức lễ tang

1. Lễ tang do gia đình người qua đời quyết định tổ chức tại nhà hoặc tại địa điểm công cộng.

2. Trong trường hợp lễ tang do Ban lễ tang tổ chức, Ban lễ tang có trách nhiệm phối hợp với gia đình người qua đời thống nhất quyết định những vấn đề liên quan đến việc tổ chức tang lễ.

3. Nếu người qua đời không có gia đình hoặc thân nhân đứng ra tổ chức lễ tang thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phối hợp với các đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm tổ chức khâm liệm và mai táng chu đáo theo phong tục truyền thống.

Điều 10. Tổ chức lễ tang

1. Lễ tang được tổ chức tại nhà hoặc tại địa điểm công cộng phải thực hiện các quy định sau:

a) Lễ tang phải được tổ chức chu đáo, trang nghiêm, tiết kiệm, phù hợp với tập quán, truyền thống văn hoá dân tộc và hoàn cảnh gia đình người qua đời;

b) Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ tang chu đáo; vận động gia đình có người từ trần xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, các hành vi mê tín dị đoan trong lễ tang;

c) Việc quàn ướp thi hài thực hiện theo Thông tư số 02/2009/TT-BYT ngày 26 tháng 5 năm 2009 của Bộ Y tế hướng dẫn vệ sinh trong hoạt động mai táng và hỏa táng.

d) Việc mặc tang phục và treo cờ tang trong lễ tang thực hiện theo truyền thống của địa phương, dân tộc và tôn giáo; chỉ treo cờ tang tại địa điểm tổ chức lễ tang;

đ) Không cử nhạc tang trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm; âm thanh đảm bảo không vượt quá độ ồn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam thực hiện tại bản tiêu chuẩn Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 2351/1998/QĐ- BKHCNMT ngày 5 tháng 12 năm 1998 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ).

Trường hợp người qua đời theo một tôn giáo hoặc là đồng bào dân tộc thiểu số, trong lễ tang được sử dụng nhạc tang của tôn giáo hoặc của dân tộc thiểu số đó; không sử dụng các nhạc khúc không phù hợp trong lễ tang;

e) Cấm rải tiền Việt Nam và các loại tiền của nước ngoài trên đường đưa tang;

g) Người qua đời phải được chôn cất trong nghĩa trang; trường hợp chưa xây dựng được nghĩa trang, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn nhân dân tổ chức chôn cất phù hợp với quy hoạch quỹ đất của địa phương;

h)[4] (được bãi bỏ);

i) Nghiêm cấm lợi dụng việc tang để hành nghề mê tín dị đoan dưới mọi hình thức; nghiêm cấm lợi dụng việc tang để cản trở việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trước pháp luật.

2. Lễ tang của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân và công an nhân dân), khi tổ chức, ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, còn phải thực hiện các quy định tại Nghị định số 62/2001/NĐ- CP ngày 12 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế tổ chức tang lễ đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước khi từ trần.

3. Khuyến khích các hoạt động sau trong tổ chức việc tang:

a) Các nghi thức cúng ba ngày, bảy ngày, bốn chín ngày, một trăm ngày, giỗ đầu, giỗ hết, cải táng chỉ thực hiện trong ngày và trong nội bộ gia đình, dòng họ;

b) Thực hiện hình thức hoả táng, điện táng, hung táng một lần vào khu vực nghĩa trang đã được quy hoạch;

c) Việc chôn cất người qua đời thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị định số 35/2008/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang;

d) Xoá bỏ các hủ tục mê tín lạc hậu như yểm bùa, trừ tà, lăn đường, khóc mướn và những nghi thức rườm rà khác;

đ) Không rắc vàng mã trên đường đưa tang.

Điều 11. Việc xây cất mộ

1. Việc xây cất mộ phải thực hiện các quy định của Bộ Xây dựng.

2. Khuyến khích các địa phương xây dựng nghĩa trang theo quy hoạch, đảm bảo khoa học, tiện lợi cho việc chôn cất, phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang.

3. Khuyến khích việc xây dựng nghĩa trang thành công trình văn hoá tưởng niệm tại địa phương.

Mục 3.[5] (được bãi bỏ)

Chương III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN[6]

Điều 13. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

1. Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang có trách nhiệm phổ biến và tổ chức thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Kết luận số 51-KL/TW ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và Thông tư này tới cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ và nhân dân.

2. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí tổ chức tuyên truyền để tạo thành dư luận xã hội hỗ trợ tích cực việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo quy định tại Thông tư này.

3. Các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch đặc biệt chú trọng hướng dẫn xây dựng các quy ước về việc cưới, việc tang và lễ hội phù hợp với phong tục, tập quán từng vùng, từng dân tộc; tập trung chỉ đạo điểm, rút kinh nghiệm từ những cơ sở tốt nhân ra diện rộng; gắn việc thực hiện quy ước về việc cưới, việc tang và lễ hội với xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, cơ quan, xí nghiệp, trường học văn hoá trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.

4. Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm hướng dẫn thanh tra chuyên ngành các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

5. Cục Văn hoá cơ sở - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm theo dõi và thường xuyên báo cáo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về kết quả thực hiện Thông tư này; định kỳ giúp Bộ tổ chức tổng kết việc thực hiện Thông tư này trên phạm vi toàn quốc để rút kinh nghiệm, đề ra những biện pháp phù hợp cho công tác chỉ đạo trong những năm tiếp theo.

6. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân và công an nhân dân) phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm vận động gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện nếp sống văn minh quy định tại Thông tư này.

Điều 14. Hiệu lực thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 03 năm 2011 và thay thế Thông tư số 04/1998/TT-BVHTT ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Bộ Văn hoá - Thông tin hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh hoặc vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để xem xét, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.

 

 

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
--------


Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo điện tử);
- Bộ Tư pháp (để theo dõi);
- Cổng thông tin điện tử của Chính phủ;
- Bộ trưởng, các Thứ trưởng;
- Vụ Pháp chế (để đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật);
- Trung tâm Chuyển đổi số Văn hóa, Thể thao và Du lịch (để đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ);
- Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ;
- Sở VHTTDL, Sở VHTT các tỉnh, thành phố;
- Lưu: VT, VHCSGĐTV.DK.65.

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Trịnh Thị Thủy

 

 



[1] Thông tư số 30/2018/TT-BVHTTDL ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có căn cứ ban hành như sau:

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

Căn cứ Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế;

Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.”

Thông tư số 05/2019/TT-BVHTTDL ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

Căn cứ Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế;

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”.

[2] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư số 30/2018/TT-BVHTTDL, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018.

[3] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 05/2019/TT- BVHTTDL, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2019.

[4] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư số 30/2018/TT-BVHTTDL, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018.

[5] Mục này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư số 30/2018/TT-BVHTTDL, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018.

[6] Điều 3 và Điều 4 của Thông tư số 30/2018/TT-BVHTTDL ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018 quy định như sau:

Điều 3. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018.

Điều 4. Trách nhiệm thi hành

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ; Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.”.

Điều 3 và Điều 4 của Thông tư số 05/2019/TT-BVHTTDL ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2019 quy định như sau:

Điều 3. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2019.

Điều 4. Trách nhiệm thi hành

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ; Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.”.

Số hiệu5/2026/VBHN-TT-BVHTTDL
Loại văn bảnVăn bản hợp nhất
Lĩnh vựcLĩnh vực khác
Ngày ban hành21/09/2026
Ngày hiệu lực21/09/2026
Nơi ban hành
Người ký
Tình trạngChưa xác định

Tóm tắt

Tóm tắt mang tính tham khảo.

Văn bản hợp nhất số 5/2026/VBHN-TT-BVHTTDL hợp nhất Thông tư quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành là văn bản pháp lý quan trọng nhằm định hướng, điều chỉnh các hoạt động văn hóa, xã hội mang tính cộng đồng đi vào nề nếp, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời loại bỏ các hủ tục lạc hậu, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí.

  • Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
    • Phạm vi điều chỉnh: Thông tư quy định chi tiết về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được tổ chức trên phạm vi cả nước.
    • Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoặc có liên quan đến việc cưới, việc tang và lễ hội tại Việt Nam.
  • Các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội Mọi tổ chức và cá nhân khi tiến hành các hoạt động cưới, tang hay lễ hội phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau: Hoạt động tổ chức phải phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; tuyệt đối không để xảy ra các hoạt động mê tín dị đoan. Không được lợi dụng các sự kiện này để hoạt động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân cư, dòng họ và gia đình. Đảm bảo tuyệt đối an toàn giao thông, trật tự và an toàn công cộng tại khu vực tổ chức. Nghiêm cấm mọi hình thức tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi danh nghĩa. Không được sử dụng thời gian làm việc và phương tiện công của cơ quan, đơn vị để đi đám cưới, lễ hội (trừ trường hợp làm nhiệm vụ theo quy định); không dùng công quỹ để làm quà mừng cưới hoặc viếng đám tang.
  • Quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới Nếp sống văn minh trong việc cưới được cụ thể hóa qua các giai đoạn từ đăng ký kết hôn đến tổ chức lễ cưới:
    • Đăng ký và trao giấy chứng nhận kết hôn: Việc kết hôn phải tuân thủ pháp luật về hôn nhân, gia đình và hộ tịch. Đôi nam nữ phải đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai người. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn trang trọng, thể hiện sự thừa nhận hợp pháp của Nhà nước. Tổ chức lễ cưới tại gia đình hoặc địa điểm cưới: Phải đảm bảo tính trang trọng, tiết kiệm, vui tươi, lành mạnh, phù hợp với phong tục tập quán và hoàn cảnh kinh tế của hai gia đình. Các nghi thức truyền thống như chạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu cần tổ chức đơn giản, không phô trương hình thức, không đòi hỏi lễ vật nặng nề. Tiệc cưới cần tổ chức ấm cúng, tránh phô trương lãng phí. Trang trí lễ cưới giản dị; trang phục cô dâu, chú rể lịch sự, phù hợp văn hóa dân tộc. Âm nhạc trong đám cưới phải lành mạnh; âm lượng không vượt quá độ ồn cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam và tuyệt đối không mở nhạc trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm.
    • Các hoạt động khuyến khích thực hiện: Sử dụng hình thức báo hỷ thay cho thiệp mời dự tiệc cưới linh đình; hạn chế tiệc tùng, khuyến khích tổ chức tiệc trà, tiệc ngọt. Không sử dụng thuốc lá trong suốt quá trình diễn ra đám cưới. Khuyến khích các cơ quan, đoàn thể đứng ra tổ chức lễ cưới cho cán bộ, nhân viên. Cô dâu, chú rể thực hiện các nghĩa cử cao đẹp như dâng hoa tại đài tưởng niệm liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, di tích lịch sử - văn hóa hoặc trồng cây lưu niệm tại địa phương. Mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình trong ngày cưới.
  • Quy định về nếp sống văn minh trong việc tang Việc tang phải được tổ chức chu đáo, trang nghiêm, tiết kiệm, tuân thủ các quy định pháp luật về hộ tịch, bảo vệ môi trường và y tế:
    • Trách nhiệm tổ chức: Lễ tang do gia đình quyết định tổ chức tại nhà riêng hoặc địa điểm công cộng. Trường hợp có Ban lễ tang, Ban lễ tang phối hợp chặt chẽ với gia đình. Đối với người qua đời không có thân nhân, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với các đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm tổ chức khâm liệm và mai táng chu đáo.
    • Quy chuẩn tổ chức lễ tang: Việc quàn ướp thi hài phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn vệ sinh của Bộ Y tế. Tang phục và treo cờ tang thực hiện theo truyền thống địa phương, dân tộc và tôn giáo; chỉ treo cờ tang tại địa điểm tổ chức lễ tang. Không cử nhạc tang trước 06 giờ sáng và sau 22 giờ đêm; âm lượng nhạc tang phải đảm bảo tiêu chuẩn tiếng ồn của Nhà nước. Cho phép sử dụng nhạc tang của tôn giáo hoặc đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp, cấm sử dụng các nhạc khúc không phù hợp. Cấm tuyệt đối hành vi rải tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài trên đường đưa tang. Người qua đời phải được chôn cất trong nghĩa trang theo quy hoạch của địa phương. Nghiêm cấm lợi dụng việc tang để hành nghề mê tín dị đoan hoặc cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang khi từ trần, việc tổ chức lễ tang còn phải tuân thủ Quy chế tổ chức tang lễ ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ.
    • Các hoạt động khuyến khích thực hiện: Các nghi thức cúng tuần (3 ngày, 7 ngày, 49 ngày, 100 ngày), giỗ đầu, cải táng nên tổ chức gọn nhẹ trong ngày và trong nội bộ gia đình, dòng họ. Khuyến khích áp dụng hình thức hỏa táng, điện táng hoặc hung táng một lần vào khu vực nghĩa trang đã quy hoạch. Xóa bỏ triệt để các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan như yểm bùa, trừ tà, lăn đường, khóc mướn. Không rắc vàng mã trên đường đưa tang để bảo vệ môi trường và mỹ quan đô thị.
  • Quy định về việc xây cất mộ Việc xây cất mộ phải tuân thủ đúng các quy định kỹ thuật của Bộ Xây dựng. Khuyến khích các địa phương quy hoạch và xây dựng nghĩa trang một cách khoa học, tiện lợi cho việc chôn cất, phù hợp với pháp luật về xây dựng và quản lý nghĩa trang. Khuyến khích phát triển nghĩa trang thành các công trình văn hóa tưởng niệm xanh, sạch, đẹp tại địa phương.
  • Trách nhiệm tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
    • Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị: Các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang có trách nhiệm phổ biến, quán triệt các Chỉ thị của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và Thông tư này đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân. Trách nhiệm của
    • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo tuyên truyền trên báo chí; chỉ đạo các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn xây dựng quy ước địa phương, gắn việc thực hiện nếp sống văn minh với phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
    • Công tác thanh tra, giám sát: Thanh tra Bộ phối hợp kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Cục Văn hóa cơ sở theo dõi, tổng hợp và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện trên phạm vi toàn quốc.
    • Tính gương mẫu: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và chiến sĩ lực lượng vũ trang phải đi đầu, gương mẫu thực hiện và vận động gia đình, cộng đồng cùng thực hiện.
    • Hiệu lực thi hành: Thông tư hợp nhất này kế thừa hiệu lực thi hành của Thông tư gốc từ ngày 15 tháng 03 năm 2011, thay thế hoàn toàn Thông tư số 04/1998/TT-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin trước đây.