Thông tư 30/2025/TT-BCT sửa đổi Thông tư 19/2019/TT-BCT quy định về áp dụng biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương do Bộ trưởng Bộ Công Thương
| BỘ CÔNG THƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 30/2025/TT-BCT | Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2025 |
THÔNG TƯ
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ 19/2019/TT-BCT NGÀY 30 THÁNG 9 NĂM 2019 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG QUY ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TỰ VỆ ĐẶC BIỆT ĐỂ THỰC THI HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Căn cứ Luật Quản lý ngoại thương ngày 12 tháng 6 năm 2017;
Căn cứ Nghị định số 40/2025/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Nghị định số 86/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại;
Thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại;
Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2019/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về áp dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2019/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về áp dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 3 như sau:
“4. Hàng hóa cạnh tranh trực tiếp là hàng hóa có khả năng được người mua chấp nhận thay thế cho hàng hóa bị điều tra.”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 4 như sau:
“3. Bên liên quan trong vụ việc điều tra được tiếp cận thông tin, tài liệu mà bên liên quan khác đã cung cấp cho Cơ quan điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017.”
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 5 như sau:
“6. Việc thẩm định hồ sơ yêu cầu, điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp phải được thực hiện phù hợp với Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và các quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 Thông tư này.”
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:
“Điều 6. Hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp
1. Hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp (trong Chương này này gọi là hồ sơ yêu cầu) gồm các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ liên quan theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP.
2. Hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP phải đáp ứng bổ sung các nội dung cụ thể sau đây:
a) Thông tin mô tả về hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP là thông tin về hàng hóa nhập khẩu từ một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp. Trong đó, thông tin về mã số hàng hóa phải căn cứ theo Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định;
b) Thông tin về khối lượng, số lượng và trị giá hàng hóa nhập khẩu bị điều tra theo quy định tại khoản 6 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ yêu cầu và đã bao gồm ít nhất 06 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp đó;
c) Thông tin, số liệu, chứng cứ về thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước theo quy định tại khoản 7 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP là thông tin, số liệu, chứng cứ trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ yêu cầu và đã bao gồm ít nhất 06 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp đó. Trong trường hợp ngành sản xuất trong nước có thời gian hoạt động ít hơn 03 năm, dữ liệu thu thập là toàn bộ thời gian hoạt động của ngành sản xuất trong nước tính đến thời điểm nộp hồ sơ yêu cầu;
d) Thông tin về giai đoạn chuyển tiếp của hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu điều tra, áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp.”
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 7 như sau:
“2. Nội dung hồ sơ yêu cầu do Cơ quan điều tra lập phải bảo đảm các nội dung quy định tại Điều 6 của Thông tư này, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP.”
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 9 như sau:
“4. Việc thẩm định hồ sơ yêu cầu, điều tra, áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may phải được thực hiện phù hợp với Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và các quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư này.”
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 như sau:
“Điều 10. Quy định về thông tin trong Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may
1. Hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may (trong Chương này gọi là hồ sơ yêu cầu) gồm các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ liên quan theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP.
2. Hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP phải đáp ứng bổ sung các nội dung cụ thể sau đây:
a) Thông tin mô tả về hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại khoản 4 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP là thông tin mô tả về hàng dệt may nhập khẩu từ một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp khẩn cấp. Trong đó, thông tin về mã số hàng hóa phải căn cứ theo Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện Hiệp định;
b) Thông tin về khối lượng, số lượng và trị giá hàng dệt may nhập khẩu quy định tại điểm a khoản này trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ yêu cầu và đã bao gồm ít nhất 03 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp khẩn cấp đó;
c) Thông tin, số liệu, chứng cứ về thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước theo quy định tại khoản 7 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP là thông tin, số liệu, chứng cứ trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ yêu cầu và đã bao gồm ít nhất 03 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp khẩn cấp đó. Trong trường hợp ngành sản xuất trong nước có thời gian hoạt động ít hơn 03 năm, dữ liệu thu thập là toàn bộ thời gian hoạt động của ngành sản xuất trong nước tính đến thời điểm nộp hồ sơ yêu cầu;
d) Thông tin về giai đoạn chuyển tiếp của hàng dệt may nhập khẩu bị yêu cầu điều tra, áp dụng biện pháp khẩn cấp.”
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 như sau:
“2. Nội dung hồ sơ do Cơ quan điều tra lập phải bảo đảm các nội dung quy định tại Điều 10 của Thông tư này, ngoại trừ khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP.”
Điều 2. Điều khoản thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu áp dụng tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo quy định của pháp luật mới ban hành./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
| Số hiệu | 30/2025/TT-BCT |
|---|---|
| Loại văn bản | Thông tư |
| Lĩnh vực | Hợp đồng – Thương mại |
| Ngày ban hành | 15/05/2025 |
| Ngày hiệu lực | 01/07/2025 |
| Nơi ban hành | Bộ Công thương |
| Người ký | Nguyễn Sinh Nhật Tân |
| Tình trạng | Chưa xác định |
Tóm tắt mang tính tham khảo.
Thông tư số 30/2025/TT-BCT do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2019/TT-BCT ngày 30 tháng 9 năm 2019 quy định về áp dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Văn bản này tập trung điều chỉnh, hoàn thiện các quy định về hồ sơ, thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ chuyển tiếp cũng như biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may nhằm bảo đảm tính tương thích với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 và Nghị định số 86/2025/NĐ-CP. Đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài liên quan đến việc điều tra, áp dụng và xử lý các biện pháp tự vệ đặc biệt để thực thi Hiệp định CPTPP. Sửa đổi khái niệm về hàng hóa cạnh tranh trực tiếp Thông tư đã làm rõ định nghĩa về hàng hóa cạnh tranh trực tiếp tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 19/2019/TT-BCT. Theo đó, hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được xác định là những loại hàng hóa có khả năng được người mua chấp nhận thay thế cho hàng hóa đang bị điều tra trên thị trường. Quy định về quyền tiếp cận thông tin của các bên liên quan Nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình điều tra, Thông tư quy định bên liên quan trong vụ việc điều tra được quyền tiếp cận các thông tin, tài liệu mà bên liên quan khác đã cung cấp cho Cơ quan điều tra. Việc tiếp cận này phải được thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 74 của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017. Căn cứ pháp lý đối với biện pháp tự vệ chuyển tiếp Quy trình thẩm định hồ sơ yêu cầu, tiến hành điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp phải được thực hiện đồng bộ, phù hợp với các quy định của Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và các quy định cụ thể tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 của Thông tư này. Yêu cầu chi tiết đối với hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp Hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp phải bao gồm đầy đủ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP, đồng thời phải đáp ứng bổ sung các nội dung cụ thể sau: Thông tin mô tả hàng hóa nhập khẩu: Phải cung cấp thông tin chi tiết về hàng hóa nhập khẩu từ một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra. Trong đó, mã số hàng hóa (mã HS) phải được căn cứ chính xác theo Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt được ban hành để thực hiện Hiệp định CPTPP. Số liệu về hàng hóa nhập khẩu bị điều tra: Cung cấp đầy đủ thông tin về khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hóa nhập khẩu bị điều tra trong khoảng thời gian ít nhất là 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ yêu cầu. Đặc biệt, số liệu này bắt buộc phải bao gồm ít nhất 06 tháng sau khi Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực đối với nước hoặc các nước thành viên bị yêu cầu điều tra. Chứng cứ về thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại: Cung cấp thông tin, số liệu và chứng cứ chứng minh ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc bị đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ, đồng thời phải bao gồm ít nhất 06 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với nước thành viên bị yêu cầu điều tra. Đối với các ngành sản xuất trong nước có thời gian hoạt động thực tế ít hơn 03 năm, dữ liệu thu thập sẽ là toàn bộ thời gian hoạt động tính đến thời điểm nộp hồ sơ. Thông tin về giai đoạn chuyển tiếp: Phải nêu rõ thông tin về giai đoạn chuyển tiếp áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp. Quy định đối với hồ sơ do Cơ quan điều tra tự lập Trong trường hợp Cơ quan điều tra tự lập hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp hoặc biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may, nội dung hồ sơ phải bảo đảm đầy đủ các yêu cầu tương ứng quy định tại Điều 6 hoặc Điều 10 của Thông tư này, ngoại trừ các thông tin hành chính của bên nộp đơn quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP. Căn cứ pháp lý đối với biện pháp khẩn cấp cho hàng dệt may Tương tự như biện pháp tự vệ chuyển tiếp, việc thẩm định hồ sơ, tiến hành điều tra và áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Quản lý ngoại thương năm 2017, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và các quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 của Thông tư này. Yêu cầu chi tiết đối với hồ sơ áp dụng biện pháp khẩn cấp cho hàng dệt may Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng dệt may phải tuân thủ Điều 63 Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và đáp ứng thêm các điều kiện đặc thù sau: Mô tả hàng dệt may nhập khẩu: Cung cấp thông tin mô tả chi tiết về hàng dệt may nhập khẩu từ một hoặc nhiều nước thành viên bị yêu cầu điều tra. Mã số hàng hóa phải căn cứ theo Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt thực hiện Hiệp định CPTPP. Số liệu nhập khẩu hàng dệt may: Cung cấp thông tin về khối lượng, số lượng và trị giá nhập khẩu của hàng dệt may bị điều tra trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ, và phải bao gồm ít nhất 03 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với nước thành viên bị yêu cầu điều tra. Chứng cứ thiệt hại đối với ngành dệt may trong nước: Cung cấp số liệu, chứng cứ về thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước trong ít nhất 03 năm liên tiếp trước khi nộp hồ sơ, bao gồm ít nhất 03 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực đối với nước thành viên bị yêu cầu điều tra. Trường hợp ngành sản xuất dệt may trong nước hoạt động chưa đủ 03 năm thì thu thập dữ liệu trong toàn bộ thời gian hoạt động thực tế. Giai đoạn chuyển tiếp: Xác định rõ thông tin về giai đoạn chuyển tiếp của hàng dệt may nhập khẩu bị yêu cầu điều tra, áp dụng biện pháp khẩn cấp. Hiệu lực thi hành và nguyên tắc áp dụng văn bản Thông tư số 30/2025/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Trong quá trình thực hiện, trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được dẫn chiếu áp dụng tại Thông tư này (như Luật Quản lý ngoại thương, các Nghị định liên quan) được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới thì các nội dung dẫn chiếu sẽ được áp dụng theo quy định của văn bản pháp luật mới ban hành.
- Quyết định 1845/QĐ-BCT năm 2022 về không gia hạn việc áp dụng biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm phân bón DAP, MAP nhập khẩu (Vụ việc ER02.SG06) do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành
- Quyết định 2957/QĐ-BCT năm 2022 sửa đổi Quyết định 918/QĐ-BCT gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phôi thép và thép dài nhập khẩu và Quyết định 1726/QĐ-BCT sửa đổi Quyết định 918/QĐ-BCT gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm phôi thép và thép dài nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành
- Quyết định 691/QĐ-BCT năm 2023 về gia hạn áp dụng biện pháp tự vệ đối với sản phẩm thép dài nhập khẩu do Bộ Công Thương ban hành