Thông tư 02/2023/TT-TANDTC hướng dẫn thi hành Điều 55 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02/2023/TT-TANDTC | Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2023 |
THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN THI HÀNH ĐIỀU 55 CỦA LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG TRONG QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 20 tháng 6 năm 2017;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự ngày 27 tháng 11 năm 2015, được sửa đổi, bổ sung ngày 12 tháng 11 năm 2021;
Căn cứ Luật Tố tụng hành chính ngày 25 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiểm toán nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2019;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao;
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư hướng dẫn thi hành Điều 55 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này hướng dẫn thi hành Điều 55 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự, vụ án hành chính giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2. Người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại; người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Cá nhân, pháp nhân được người quy định tại khoản 2 Điều này ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.
4. Người thi hành công vụ, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.
5. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có liên quan.
Điều 3. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính
1. Tòa án đang giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án hình sự có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi vụ án có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị can, bị cáo là người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự có hành vi quy định tại Điều 17, Điều 19, Điều 20 và Điều 21 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
b) Hành vi của bị can, bị cáo bị truy tố gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có liên quan với nhau;
c) Có yêu cầu bồi thường của người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại Điều 5 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2. Tòa án đang giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án hành chính có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi vụ án có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người bị kiện có quyết định hành chính, hành vi hành chính quy định tại Điều 7 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
b) Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có liên quan với nhau;
c) Có yêu cầu bồi thường của người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại Điều 5 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Tòa án không giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự khi bị can, bị cáo là người thi hành công vụ có hành vi gây thiệt hại quy định tại Điều 18 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong trường hợp này được thực hiện tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định tại Mục 1 Chương V của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 4. Yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính
1. Người quy định tại Điều 5 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự hướng dẫn tại
2. Người quy định tại Điều 5 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính hướng dẫn tại
3. Yêu cầu bồi thường quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được thể hiện bằng văn bản hoặc lời khai, trình bày và được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản làm việc khác.
4. Vụ án hình sự, vụ án hành chính có yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được xem xét, giải quyết trong cùng vụ án, trừ trường hợp quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 7 của Luật Tố tụng hành chính và hướng dẫn tại
Trường hợp người yêu cầu bồi thường đưa ra yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sau thời điểm hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án không giải quyết mà giải thích, hướng dẫn cho họ về quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sau khi họ nhận được bản án, quyết định của Tòa án.
Điều 5. Xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1. Tòa án được hướng dẫn tại
2. Khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử phải thảo luận, xác định hành vi của người thi hành công vụ có trái pháp luật, có gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay không. Nội dung này phải được ghi vào biên bản nghị án.
3. Trường hợp xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hội đồng xét xử xác định thiệt hại được bồi thường; xem xét, quyết định các vấn đề về bồi thường thiệt hại trong bản án, quyết định.
4. Trường hợp xác định hành vi của người thi hành công vụ không trái pháp luật hoặc không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu bồi thường trong bản án, quyết định.
Điều 6. Xác định thiệt hại được bồi thường
1. Ngay sau khi nhận được yêu cầu bồi thường, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phải thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan, xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác tài liệu, chứng cứ đã thu thập để xác định thiệt hại nhanh chóng, theo đúng quy định của pháp luật.
2. Việc xác định thiệt hại được bồi thường thực hiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều 7. Tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự
1. Trường hợp xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng chưa có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết yêu cầu bồi thường thì Hội đồng xét xử tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án khác. Người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự sau khi bản án, quyết định giải quyết vụ án hình sự, hành chính có hiệu lực pháp luật. Việc tách yêu cầu bồi thường phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính.
2. Khi giải quyết vụ án dân sự theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này mà bản án, quyết định hình sự; bản án, quyết định hành chính bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự, vụ án hành chính.
Điều 8. Nội dung của bản án có giải quyết yêu cầu bồi thường
Bản án hình sự, bản án hành chính giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải có các nội dung sau đây:
1. Tại phần thông tin về người tham gia tố tụng, ghi tư cách tham gia tố tụng của người có yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính.
2. Tại phần “NỘI DUNG VỤ ÁN”, trình bày thành đoạn riêng thể hiện đầy đủ nội dung yêu cầu của người có yêu cầu bồi thường.
3. Tại phần “NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN”, trình bày thành đoạn riêng về các vấn đề sau đây:
a) Trường hợp chấp nhận yêu cầu bồi thường thì phải phân tích, nhận định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, gây thiệt hại cho người yêu cầu và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; nội dung yêu cầu của người yêu cầu bồi thường; xác định nhũng thiệt hại đối với người yêu cầu bồi thường do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; tài liệu, chứng cứ đã đủ giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Trường hợp không chấp nhận yêu cầu bồi thường thì phải phân tích, nhận định hành vi của người thi hành công vụ là không trái pháp luật, không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
c) Trường hợp tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án khác thì phải phân tích, nhận định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết yêu cầu bồi thường.
4. Tại phần “QUYẾT ĐỊNH”, trình bày thành đoạn riêng về các vấn đề sau đây:
a) Trường hợp chấp nhận yêu cầu bồi thường thì ghi rõ chấp nhận yêu cầu bồi thường của người yêu cầu; xác định các loại thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường, phục hồi danh dự (nếu có); việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); xác định cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường, thực hiện phục hồi danh dự (nếu có), khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có); yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại và thu tiền hoàn trả; người yêu cầu bồi thường không phải nộp án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với yêu cầu bồi thường;
b) Trường hợp không chấp nhận yêu cầu bồi thường thì ghi rõ không chấp nhận yêu cầu bồi thường của người yêu cầu; người yêu cầu bồi thường không phải nộp án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với yêu cầu bồi thường;
c) Trường hợp tách yêu cầu bồi thường thì ghi rõ hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự; người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự.
Điều 9. Hiệu lực thi hành, tổ chức thực hiện
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2023.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị thì phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để có hướng dẫn, xử lý kịp thời. Việc sửa đổi, bổ sung Thông tư này do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định./.
|
| CHÁNH ÁN |
| Số hiệu | 02/2023/TT-TANDTC |
|---|---|
| Loại văn bản | Thông tư |
| Lĩnh vực | Phá sản – Tranh chấp |
| Ngày ban hành | 24/08/2023 |
| Ngày hiệu lực | 20/10/2023 |
| Nơi ban hành | Tòa án nhân dân tối cao |
| Người ký | Nguyễn Hòa Bình |
| Tình trạng | Chưa xác định |
Tóm tắt mang tính tham khảo.
Thông tư số 02/2023/TT-TANDTC do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thi hành Điều 55 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thống nhất quy trình, thẩm quyền và thủ tục giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra ngay trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính tại hệ thống Tòa án nhân dân. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Thông tư này hướng dẫn chi tiết việc giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quá trình tố tụng hình sự và tố tụng hành chính tại Tòa án. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người bị thiệt hại, người thừa kế, người đại diện theo pháp luật hoặc cá nhân, pháp nhân được ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ đó; cùng các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có liên quan. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường Thông tư phân định rõ thẩm quyền của Tòa án cấp sơ thẩm trong hai lĩnh vực tố tụng: Trong tố tụng hình sự: Tòa án đang giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường khi có đủ các điều kiện: Bị can, bị cáo là người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự hoặc thi hành án dân sự có hành vi trái pháp luật theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; hành vi bị truy tố gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường có mối quan hệ liên quan trực tiếp với nhau; đồng thời có yêu cầu bồi thường từ người có quyền yêu cầu. Trường hợp ngoại lệ trong tố tụng hình sự: Tòa án không giải quyết yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự khi bị can, bị cáo là người thi hành công vụ có hành vi gây thiệt hại quy định tại Điều 18 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong trường hợp này phải được thực hiện tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo thủ tục hành chính. Trong tố tụng hành chính: Tòa án đang giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường khi người bị kiện có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện; quyết định hoặc hành vi hành chính đó gây ra thiệt hại và yêu cầu bồi thường có liên quan trực tiếp với nhau; đồng thời có yêu cầu bồi thường của người có quyền yêu cầu. Thời điểm và phương thức đưa ra yêu cầu bồi thường Để yêu cầu bồi thường được xem xét, giải quyết cùng với vụ án hình sự hoặc vụ án hành chính, người yêu cầu phải thực hiện quyền này trong thời hạn quy định: Đối với vụ án hình sự: Yêu cầu bồi thường phải được đưa ra trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Đối với vụ án hành chính: Yêu cầu bồi thường phải được đưa ra trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Hình thức thể hiện: Yêu cầu bồi thường phải được lập bằng văn bản hoặc trình bày bằng lời khai trực tiếp và được ghi nhận đầy đủ vào biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp hoặc các biên bản làm việc khác. Xử lý yêu cầu quá hạn: Trường hợp người yêu cầu đưa ra yêu cầu bồi thường sau các thời điểm nêu trên, Tòa án sẽ không giải quyết trong vụ án đó mà có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn họ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường tại cơ quan có thẩm quyền sau khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Xác định hành vi trái pháp luật và thiệt hại được bồi thường Quy trình xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và mức độ thiệt hại được thực hiện chặt chẽ: Thẩm quyền và trách nhiệm của Hội đồng xét xử: Tòa án có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại. Khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử bắt buộc phải thảo luận, xác định hành vi của người thi hành công vụ có trái pháp luật và có gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay không. Nội dung thảo luận này phải được ghi nhận cụ thể trong biên bản nghị án. Thu thập tài liệu, chứng cứ: Ngay sau khi nhận được yêu cầu bồi thường, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phải chủ động thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan, tiến hành đánh giá khách quan, toàn diện để xác định thiệt hại một cách nhanh chóng, chính xác theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Hướng xử lý cụ thể: Nếu xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và gây thiệt hại, Hội đồng xét xử xác định thiệt hại và quyết định các vấn đề bồi thường trong bản án. Nếu hành vi không trái pháp luật hoặc không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu bồi thường. Tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng vụ án dân sự khác Thông tư quy định giải pháp linh hoạt nhằm bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án chính: Điều kiện tách yêu cầu: Trường hợp Tòa án xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng chưa có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định chính xác mức độ thiệt hại, Hội đồng xét xử sẽ tách yêu cầu bồi thường để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Quyền khởi kiện của người yêu cầu: Người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục tố tụng dân sự sau khi bản án, quyết định giải quyết vụ án hình sự, hành chính gốc đã có hiệu lực pháp luật. Việc tách yêu cầu bồi thường phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự, hành chính. Tạm đình chỉ vụ án dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự được tách ra, nếu bản án hình sự hoặc hành chính gốc bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để chờ kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của vụ án gốc. Yêu cầu về nội dung của bản án có giải quyết bồi thường Bản án hình sự hoặc hành chính có giải quyết yêu cầu bồi thường phải được trình bày rõ ràng, mạch lạc với các nội dung bắt buộc sau: Thông tin người tham gia tố tụng: Ghi rõ tư cách tham gia tố tụng của người yêu cầu bồi thường theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc Luật Tố tụng hành chính. Phần "Nội dung vụ án": Phải trình bày thành một đoạn riêng biệt thể hiện đầy đủ, chi tiết nội dung yêu cầu của người có yêu cầu bồi thường. Phần "Nhận định của Tòa án": Phải có đoạn riêng phân tích cụ thể. Nếu chấp nhận yêu cầu bồi thường, phải phân tích hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, mối quan hệ nhân quả với thiệt hại thực tế và tính đầy đủ của chứng cứ. Nếu không chấp nhận hoặc tách yêu cầu bồi thường, phải nêu rõ lý do và căn cứ pháp lý tương ứng. Phần "Quyết định": Trình bày thành đoạn riêng biệt. Trường hợp chấp nhận bồi thường, phải ghi rõ mức bồi thường, các loại thiệt hại được bồi thường, biện pháp phục hồi danh dự, khôi phục quyền lợi hợp pháp, xác định cơ quan có trách nhiệm chi trả và yêu cầu cơ quan quản lý xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Đồng thời, phải ghi rõ người yêu cầu bồi thường không phải nộp án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với yêu cầu bồi thường. Hiệu lực thi hành Thông tư 02/2023/TT-TANDTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2023. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc hoặc đề xuất, kiến nghị, các cơ quan, đơn vị phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao (qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để được hướng dẫn, xử lý kịp thời. Việc sửa đổi, bổ sung Thông tư do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
- Quyết định 1681/QĐ-TTg năm 2016 về Chương trình thực hiện Nghị quyết 96/2015/QH13 về tăng cường biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Quyết định 1176/QĐ-BTP năm 2018 về Kế hoạch thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật đối với Đề mục Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do Bộ Tư pháp ban hành
- Quyết định 304/QĐ-VKSTC năm 2018 quy định về quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân do Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành
- Công văn 1798/BTP-BTNN năm 2018 về triển khai thi hành các văn bản hướng dẫn Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do Bộ Tư pháp ban hành
- Chỉ thị 08/CT-VKSTC năm 2021 về tăng cường trách nhiệm công tác quản lý, giải quyết yêu cầu bồi thường Nhà nước trong tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- Quyết định 1983/QĐ-BTP năm 2022 về Kế hoạch sơ kết 05 năm thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- Chỉ thị 03/2023/CT-CA tăng cường thực hiện kỷ cương, kỷ luật công vụ gắn với trách nhiệm của người đứng đầu trong các Tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- Công văn 915/VPCP-V.I năm 2024 tình hình chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và kết quả thi hành án hành chính năm 2023 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014
- Bộ luật dân sự 2015
- Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Luật tố tụng hành chính 2015
- Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017
- Luật Kiểm toán nhà nước sửa đổi 2019
- Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021