Nghị quyết 33/2024/NQ-HĐND sửa đổi phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa kèm theo Nghị quyết 90/2017/NQ-HĐND
| HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 33/2024/NQ-HĐND | Thanh Hóa, ngày 10 tháng 7 năm 2024 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG PHỤ LỤC NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
KHÓA XVIII, KỲ HỌP THỨ 20
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ các Nghị định của Chính phủ: Số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; số 59/2024/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định, số 154/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng;
Căn cứ Thông tư số 36/2006/TT-BVHTTDL ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ;
Xét Tờ trình số 141/TTr-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh; Báo cáo thẩm tra số 488/BC-VHXH ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Bổ sung 838 tên vào Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh, cụ thể như sau:
1. Tên địa danh (Tên một địa điểm, vùng đất nổi tiếng, có giá trị tiêu biểu về truyền thống lịch sử - văn hóa của đất nước, của tỉnh Thanh Hóa; địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa): 534.
2. Từ có ý nghĩa tiêu biểu: 11.
3. Tên di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của tỉnh Thanh Hóa: 53.
4. Tên phong trào cách mạng (các sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược có giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa): 20.
5. Tên danh nhân: 220, trong đó:
a) Danh nhân đất nước: 18.
b) Danh nhân, nhân vật lịch sử được suy tôn tại Thanh Hóa: 202, trong đó:
- Danh nhân, nhân vật lịch sử là người ngoài tỉnh có đóng góp cho Thanh Hóa, được suy tôn tại Thanh Hóa: 07.
- Danh nhân, nhân vật lịch sử Thanh Hóa: 163.
- Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân: 31.
- Anh hùng lao động: 01.
(Chi tiết tại Phụ lục số I kèm theo)
Điều 2. Sửa đổi 22 tên tại phụ lục Ngân hàng tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành ban hành kèm theo Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh.
(Chi tiết tại Phụ lục số II kèm theo)
Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Nghị quyết này và các quy định hiện hành của pháp luật tổ chức triển khai thực hiện.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc tổ chức triển khai, thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa khóa XVIII, kỳ họp thứ 20 thông qua ngày 10 tháng 7 năm 2024, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2024./.
|
| CHỦ TỊCH
|
PHỤ LỤC I
BỔ SUNG NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Kèm theo Nghị quyết số 33/2024/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
(Tổng số: 838 tên các địa danh, sự kiện, danh nhân)
I. TÊN ĐỊA DANH (Tên một địa điểm, vùng đất nổi tiếng, có giá trị tiêu biểu về truyền thống lịch sử - văn hóa của đất nước, của tỉnh Thanh Hóa; địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa): 534 địa danh.
1. Tên địa danh nổi tiếng của đất nước: 02 địa danh
2. Tên địa danh lịch sử - văn hóa của tỉnh Thanh Hóa[2]: 103 địa danh
3. Địa danh đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân; tên địa phương kết nghĩa hoặc có mối quan hệ đặc biệt với Thanh Hóa: 429 tên
3.1. Huyện Bá Thước: 16 địa danh
3.2. Thị xã Bỉm Sơn: 04 địa danh
3.3. Huyện Cẩm Thủy: 03 địa danh.
3.4. Huyện Đông Sơn: 16 địa danh
3.5. Huyện Hà Trung: 14 địa danh
3.6. Huyện Hậu Lộc: 34 địa danh
3.7. Huyện Hoằng Hóa: 09 địa danh
3.8. Huyện Lang Chánh: 07 địa danh
3.9. Huyện Mường Lát: 04 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Bản Đoàn Kết | Bản Đoàn Kết thuộc xã Tén Tằn, huyện Mường Lát; sau khi xã Tén Tằn sáp nhập vào thị trấn Mường Lát vào năm 2019, hiện nay đổi tên thành khu phố Đoàn Kết - thị trấn Mường Lát, huyện Mường Lát, tên một bản của đồng bào Khơ Mú. | |
| 2 | Bản Mường Púng | Bản Mường Púng thuộc xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, là địa danh có từ xưa, nay là Bản Pùng (thuộc Mường Púng xưa) thuộc xã Quang Chiểu. | Mường Púng |
| 3 | Bản Mường Sim | Bản Mường Sim nay thuộc Bản Sim, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, là địa danh từ xưa. | Mường Sim |
| 4 | Bản Sài Khao | Bản Sài Khao nằm ở độ cao hơn 1.500 mét so với mực nước biển, trong những tháng năm kháng chiến oai hùng, chính bản làng nghèo này là nơi Trung đoàn Tây Tiến hành quân ghé ngang và gửi giấc mộng nhớ thương cho người nơi hậu phương. Vùng đất này đến nay vẫn lưu giữ những dấu tích mà bộ đội Tây Tiến khi dừng chân, lập căn cứ đã để lại. | Sài Khao |
3.10. Huyện Nga Sơn: 27 địa danh
3.11. Thị xã Nghi Sơn: 74 địa danh
3.12. Huyện Ngọc Lặc: 05 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Châu Ngọc, tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Trước năm 1900 thuộc Mường Chẹ, sau thuộc tổng Yên Trường và 2/3 tổng Quảng Trị thuộc phủ Thiệu Hóa, huyện Thụy Nguyên. Châu Ngọc là tên gọi vùng đất chủ yếu của huyện Ngọc Lặc ngày nay. | Châu Ngọc | |
| 2 | Làng Ngọc Châu | Làng Ngọc Châu, tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, trước đây gọi là làng Bống thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, là quê hương của Lê Hiểm, một công thần khai quốc triều Hậu Lê, có đóng góp vào thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn. Hiện nay, đền thờ vẫn còn dấu vết ở làng Thành Sơn (làng Giác, xã Kiên Thọ) vùng đất này còn là nơi lưu truyền huyền thoại về "Chúa Lam Sơn" và nghĩa quân Lam Sơn, trong đó có huyền thoại về thanh gươm thần của Lê Lợi. | Ngọc Châu |
| 3 | Làng Riếng | Làng Riếng, tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nơi đây có đền làng Riếng (tiếng Mường gọi là Lôồng Riềng) thờ Thánh Gióng - vị thánh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đền được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 180/QĐ-UBND ngày 15/1/2016. Nay làng Riếng thuộc xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc. | Làng Riếng |
| 4 | Làng Thành Sơn | Làng Thành Sơn là làng cổ, quê hương của Lê Lai và gia tộc Lê Lai, Lê Lư, Lê Lộ, Lê Lâm - đều là dũng tướng tài giỏi, đóng góp cho khởi nghĩa Lam Sơn đi đến thắng lợi. Làng Thành Sơn nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc. | Thành Sơn |
| 5 | Mường Chẹ, tên một trong bốn vùng Mường cổ của Thanh Hóa, trước năm 1945 thuộc xã Cao Khê, Mỹ Khê, nay thuộc xã Mỹ Tân, huyện Ngọc Lặc. | Mường Chẹ |
3.13. Huyện Như Thanh: 05 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng | Căn cứ Ổn Lâm - Kỳ Thượng thuộc xã Thanh Kỳ, huyện Như Thanh, là căn cứ của đội quân Lang Bôn người Thái, được Nguyễn Phương hợp nhất xây dựng thành căn cứ trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở Nam Nông Cống. Ngày 26/4/1886, Tê Ri Ông (Terrillon) đã tiến hành cuộc hành quân tấn công vào căn cứ Ổn Lâm-Kỳ Thượng. Tú Phương và Tôn Thất Hàm tổ chức nghĩa binh, chống cự ác liệt, vì vũ khí quân giặc tối tân, nghĩa quân chống lại không nổi, một năm sau, căn cứ bị hoàn toàn thất thủ, các thủ lĩnh bị bắt, nhiều người bị chém đầu. | Ổn Lâm - Kỳ Thượng |
| 2 | Cầu Châu | Cầu Châu là tên cây cầu thuộc huyện Như Thanh, cầu được hình thành từ những năm 1893, khi chính quyền địa phương và Tổng đốc Thanh Hóa, Toàn quyền Đông Dương thành lập châu Như Xuân (gồm 4 tổng: Tổng Như Lăng, tổng Xuân Du, tổng Lãng Lăng, tổng Hạ Thưởng) tiến hành xây dựng châu lỵ tại Bến Sung và làm tuyến đường (nối với đường 10 ngày nay) và xây dựng cây cầu qua tuyến đường đặt tên là Cầu Châu. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cầu Châu |
| 3 | Đền Phủ Sung | Đền Phủ Sung thuộc thị trấn Bến Sung, xã Hải Vân, huyện Như Thanh, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân, gắn với di tích Phủ Sung có từ thế kỷ XIX, di tích nằm ở trung gian nơi gặp gỡ của miền ngược và miền xuôi, nơi bắt đầu của chặng hành trình về với Bến En xanh. | Phủ Sung |
| 4 | Đồi 20 | Đồi 20 tên gọi xưa, ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, là căn cứ cách mạng, là địa danh trồng cây cà phê nổi tiếng. Từ thời Pháp, khi người Pháp đến khảo sát địa hình đất, loại đất này hợp với cây cà phê và người Pháp phân lô trồng cây cà phê lô số 20, từ đó lấy tên là Đồi 20. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đồi 20 trở thành điểm trực chiến của dân quân du kích xã Hải Vân. Nay Đồi 20, thuộc xã Hải Vân, huyện Như Thanh. | Đồi 20 |
| 5 | Đồi Lô Cả | Đồi Lô Cả thuộc huyện Như Thanh, nơi đây thực dân Pháp đã xây dựng đồn điền cà phê tại các khu vực đồi 20, 21 và các vùng lân cận, chúng tìm người Việt để cai quản, chăm sóc đồn điền, đồng thời mộ phu trồng cà phê. Người từ khắp nơi đổ về cư ngụ tại vùng Xuân Điền, thị trấn Bến Sung ngày nay do một quan tây Alô cai quản, cũng bắt nguồn từ đó Nhân dân thường gọi đồi Lô Cả cho đến nay. | Lô Cả |
3.14. Huyện Như Xuân: 07 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Hang Đồng Mười | Hang Đồng Mười thuộc xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, là một trong những nơi hoạt động của các chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần Vương chống Pháp và có sự liên kết chặt chẽ với các nghĩa quân của Lương Ngọc Toản và Nguyễn Phương. Đây cũng là nơi đặt xưởng quân khí đầu tiên của quân đội ta, sau bị Pháp đánh bom, chuyển về Lò Cao kháng chiến Hải Vân. | Đồng Mười |
| 2 | Núi Bù Mun | Núi Bù Mun thuộc xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân. Núi Bù Mun là địa bàn hoạt động của Cầm Bá Thước và thủ lĩnh người Thổ là Lê Đình Tại trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân chủ yếu ở 2 tổng Lãng và Như Lăng và có sự kết hợp chặt chẽ với các đội quân ở phía tây Nghệ An. Dưới chân núi là nơi sinh sống của đồng bào 4 dân tộc: Thái, Mường, Thổ, Kinh với bản làng trù phú. | Bù Mun |
| 3 | Núi Pù Hàm | Núi Pù Hàm là tên một đỉnh núi ở huyện Như Xuân cao 1.119m, là dãy núi tự nhiên phân định ranh giới giữa hai huyện Như Xuân và Quỳ Châu (Nghệ An). Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Pù Hàm |
| 4 | Thác Cổng Trời | Thác Cổng Trời thuộc xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, là một khu vực sinh thái tự nhiên đặc sắc, nơi đây có dãy núi Bù Mùn cao hơn 1.000m. Thác Cổng Trời khởi nguồn từ các khe suối lớn nhỏ thuộc dãy núi Bù Mùn, thác có độ cao từ 10 - 12m. Hiện tại đang được chính quyền địa phương và các ngành có liên quan quản lý, gìn giữ, bảo tồn và hướng dẫn khách tham quan du lịch. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cổng Trời |
| 5 | Thác Đồng Quan | Thác Đồng Quan thuộc thôn Đồng Quan, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, là một khu vực sinh thái tự nhiên, khởi đầu từ núi Bù Mùn có độ cao hơn 1.000 m: Thác có độ cao gần 700 m có 5 tầng thác: Thác Tiên, thác Trượt, thác Tà Sáy, thác Đất Đỏ, thác Tà Phục. Mỗi tầng thác có độ cao từ 12-15m có nước chảy quanh năm. Hiện tại đang được chính quyền địa phương và các ngành có liên quan quản lý, gìn giữ, bảo tồn và hướng dẫn khách tham quan du lịch. Thác đã được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Quan |
| 6 | Xã Quảng Dạ | Xã Quảng Dạ thuộc huyện Như Xuân, nay là xã Xuân Bình, Bãi Trành, trong thời kỳ Pháp thuộc có phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống lại các chủ đồn điền mở rộng diện tích cà phê, cao su... Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Quảng Dạ |
| 7 | Xã Yên Cát | Xã Yên Cát là một xã lớn có trước năm 1954 của huyện Như Xuân, nay thuộc địa bàn các xã Hóa Quỳ, thị trấn Yên Cát...Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khu an toàn khu Đồng Ớt, xã Yên Cát (nay thuộc địa bàn xã Hóa Quỳ). Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Yên Cát |
3.15. Huyện Nông Cống: 09 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Bến Chuồng | Bến Chuồng là địa danh thuộc xã Công Chính của huyện Nông Cống. Ngã ba Bến Chuồng đi 3 hướng, 1 hướng đi thị trấn Nông Cống, 1 hướng đi thị xã Nghi Sơn và 1 hướng đi xã Yên Mỹ (nông trường Yên Mỹ cũ) qua dốc Bò Lăn sang Nghệ An và đường mòn Hồ Chí Minh. Bến Chuồng là địa điểm tập kết lương thực, vũ khí của lực lượng thanh niên xung phong tỉnh Thanh Hóa, nơi đây có cầu Chuồng bắc qua sông Thị Long nằm trên đường huyết mạch 12B lên Bò Lăn, vì vậy cung đường Chuồng - Bò Lăn là trọng điểm đánh phá liên tục không ngừng của máy bay, pháo từ tàu chiến Mỹ trong những năm chiến tranh phá hoại chống Mỹ. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bến Chuồng |
| 2 | Căn cứ Hương Trì | Căn cứ Hương Trì, đây là một địa danh cách mạng trong phong trào Cần Vương của huyện Nông Cống. Phong trào này hoạt động rầm rộ, sau này phát triển lớn thành Ổn Lâm - Kỳ Thượng, tên địa danh gắn liền với nhân vật Tú Phương. Khi Tú Phương được Tôn Thất Thuyết giao cho chức Tham Biện Sơn Hải Phòng quân vụ, kiêm cả phủ Tĩnh Gia (gồm ba huyện: Nông Cống - Tĩnh Gia - Quảng Xương), ông liên hệ với cụ Nguyễn Xuân Ôn là lãnh tụ Cần Vương ở Nghệ An, xây dựng căn cứ Hương Trì. Là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hương Trì |
| 3 | Chùa Vĩnh Thái thuộc xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống gắn với di tích lịch sử cách mạng, đồng thời là cơ sở hoạt động cách mạng hai huyện Nông Cống và Thọ Xuân giai đoạn 1930-1945. Địa danh gắn liền với cố Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh giai đoạn (1939-1941) khi ông được phân công về miền Trung củng cố xây dựng xứ ủy Trung Kỳ. | Vĩnh Thái | |
| 4 | Đồn điền Bãi Áng | Đồn điền Bãi Áng thuộc huyện Nông Cống, do tư sản người Pháp làm chủ, xưa kia đồn điền này lớn, mấy ngàn ha. Từ Cổ Định vào Bãi Áng, dọc theo núi Nưa trong lòng đất là một vệt dài quặng cromitte. Trước năm 1945, chủ người Pháp bán cho ông Hàn, sau đó bán cho Tôn Thất Tiễn. Ngày nay, địa danh Bãi Áng vẫn được quen dùng và là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bãi Áng |
| 5 | Làng Cổ Đôi | Làng Cổ Đôi thuộc xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, là tên làng nổi tiếng khoa bảng của huyện Nông Cống xưa, (dân gian có câu Nông Cống Cổ Đôi - Cổ Định) đã đi vào tiềm thức người dân Nông Cống. | Cổ Đôi |
| 6 | Làng Đông Cao | Làng Đông Cao thuộc xã Trung Chính, huyện Nông Cống, là làng văn hóa đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa và là làng văn hóa thứ 2 của cả nước. Làng có di tích đình làng Đông Cao (nơi thờ Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt) được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 4732/QĐ-UBND ngày 30/12/2013. | Đông Cao |
| 7 | Làng Phú Đa Hậu | Làng Phú Đa Hậu, là làng cổ, nay thuộc xã Tượng Văn, huyện Nông Cống, là một trong những làng ra đời từ rất sớm mang nhiều giá trị lịch sử văn hóa. Đặc biệt làng có đình làng Phú Đa Hậu, nơi thờ Thần Hoàng làng được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định số 215/QĐ-SVHTT ngày 16/6/2000 và và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 3022/QĐ-UBND ngày 14/09/2012. | Phú Đa Hậu |
| 8 | Làng Vũ Yên | Làng Vũ Yên là làng cổ, nay thuộc xã Minh Thọ, huyện Nông Cống. Tên làng có từ xa xưa, đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Vũ Yên |
| 9 | Xã Minh Thọ | Xã Minh Thọ thuộc huyện Nông Cống. Tên địa danh hành chính xã Minh Thọ trước khi thực hiện Nghị Quyết số 935/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn huyện Nông Cống gồm toàn bộ dân số và diện tích của xã Minh Thọ. | Minh Thọ |
3.16. Huyện Quan Hóa: 13 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Bản Khằm | Bản Khằm, tên gọi xưa đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. Bản có di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp tỉnh. Đây là nơi thờ Thượng tướng Thống lĩnh Quân Khằm Ban, người có công giữ nước, đánh đuổi giặc Minh, giữ yên bờ cõi, nay thuộc xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. | Bản Khằm |
| 2 | Cầu Na Sài | Cầu Na Sài thuộc thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, cây cầu bắc qua sông Mã, nối xã Phú Nghiêm với thị trấn Hồi Xuân. Nằm trên Quốc lộ 15, cầu Na Sài có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của tỉnh, nhất là phát triển kinh tế - xã hội các huyện phía Tây Thanh Hóa, đồng thời góp phần làm thay đổi diện mạo vùng quê Quan Hóa. Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Na Sài |
| 3 | Đồn Poọng Nưa | Đồn Poọng Nưa thuộc huyện Quan Hóa, là đồn quân sự của thực dân Pháp, được xây dựng năm 1947 tại xã Hiền Kiệt. Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Poọng Nưa |
| 4 | Hang Phi | Hang Phi nằm ở thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, nằm trong quần thể di tích hang Lũng Mu. Hang Phi là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. Địa danh Hang Phi là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Hang Phi |
| 5 | Hồ Pha Đay | Hồ Pha Đay thuộc bản Bút, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa, là hồ tự nhiên có độ cao so với mặt nước biển khoảng 700 mét, xung quanh hồ là quần thể rừng già nguyên sinh với nhiều cây gỗ lớn, có thể tổ chức các hoạt động cắm trại, chèo thuyền, bè mảng, thả lưới, quăng chài, câu cá, chụp hình...Đây là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. Địa danh Hồ Pha Đay là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | Pha Đay |
| 6 | Hồ Vinh Quang | Hồ Vinh Quang là hồ tự nhiên thuộc địa phận bản Vinh Quang, xã Phú Nghiêm, huyện Quan Hóa, có diện tích khoảng 5 ha. Địa danh Hồ Vinh Quang là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân huyện Quan Hóa. | |
| 7 | Mường Khằng | Mường Khằng là tên gọi của một trong những vùng Mường cổ thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Khằng nay là địa bàn xã Thiên Phủ. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Khằng |
| 8 | Mường Khiết | Mường Khiết là tên gọi của một trong những vùng Mường cổ thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Khiết nay thuộc địa bàn xã Hiền Chung, xã Hiền Kiệt huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Khiết |
| 9 | Mường Le | Mường Le, tên gọi quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Le nay là địa bàn các xã Trung Thành, xã Thành Sơn, thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Le |
| 10 | Mường Páng | Mường Páng, tên gọi quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Páng nay là địa bàn xã Trung Sơn, thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Páng |
| 11 | Mường Tuồng | Mường Tuồng, tên gọi quen thuộc của một trong những vùng Mường Thanh Hóa, vùng đất Mường Tuồng nay là địa bàn các xã Nam Tiến, xã Nam Động thuộc huyện Quan Hóa. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Tuồng |
| 12 | Mường Ánh | Mường Ánh là tên gọi của một trong những vùng Mường cổ, thuộc huyện Quan Hóa, vùng đất Mường Ánh nay là địa bàn các xã Phú Lệ, Phú Sơn, Phú Thanh, Phú Xuân. Địa danh này đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Mường Thanh Hóa. | Mường Ánh |
| 13 | Xã Nam Động | Xã Nam Động thuộc huyện Quan Hóa, là tên xã của huyện Quan Hóa nơi người Mường chiếm đa số với 1.639 người (chiếm 62,43% tổng dân cư toàn xã), sau đó là Thái với 765 người (chiếm 29,14% tổng dân cư toàn xã). | Nam Động |
3.17. Huyện Quan Sơn: 08 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Cầu Phà Lò | Cầu Phà Lò thuộc xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn. Cầu Phà Lò là nơi bị giặc đánh phá ác liệt nhằm cắt đứt huyết mạch giao thông nối đôi bờ sông Lò, ngăn con đường giao thông của ta sang nước bạn Lào. Ngày 10/02/1966, lực lượng dân quân xã Trung Hạ, Tam Lư đã bắn cháy một máy bay F105 của Mỹ bằng súng bộ binh tại trận địa phòng không bảo vệ cầu Phà Lò trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cầu Phà Lò được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 2514/QĐ-UBND ngày 04/8/2011. | Phà Lò |
| 2 | Động Nang Non | Động Nang Non thuộc huyện Quan Sơn, là động nằm trong núi đá cao ở xã Sơn Lư nay là thị trấn Sơn Lư, huyện Quan Sơn. Với địa hình đồi núi tự nhiên kết hợp với sông Lò, bên trong có hang động rộng 10m, chiều sâu 70 m, cao trên 70 m, trong động có nhiều thạch nhũ đẹp. Tương truyền thế kỷ XV, khi Lê Lợi dẫn binh sang Lào để xuống Con Cuông (Nghệ An) đánh giặc Minh sau đó đánh ra Bắc, khi qua đây, ông đã từng dừng chân vào hang thăm thắng cảnh động Nang Non. | Nang Non |
| 3 | Mường Chu Sàn | Mường Chu Sàn là tên gốc Mường Xia, gắn liền với truyền thuyết Tạo Mường, là trung tâm của khu vực biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa, lúc bấy giờ gồm có các Mường như: Mường Chanh, Mường Pùng, Mường Xim, Mường Chiềng Cồng, Mường Lát, Mường Ai, Mường Lý (7 Mường nay thuộc huyện Mường Lát); Mường Khiết, Mường Khằng, Mường Tuồng (3 Mường nay thuộc huyện Quan Hóa); Mường Xia, Mường Mìn, Mường Sại, Mường Mò, Mường Hạ, Mường Chự (6 Mường nay thuộc huyện Quan Sơn). Tổng có 16 Mường nhỏ thuộc Mường lớn Chu Sàn sau đổi tên thành Mường Xia. Ngoài ra còn có hai Mường kết nghĩa là Mường Bén và Mường Sôi của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. | Chu Sàn |
| 4 | Mường Hạ | Mường Hạ là tên đơn vị hành chính được thành lập năm Minh Mạng thứ 15 (1834). Là địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. Mường Hạ ngày nay thuộc thị trấn Sơn Lư và xã Sơn Hà thuộc huyện Quan Sơn. | Mường Hạ |
| 5 | Núi Pha Dùa | Núi Pha Dùa là núi thuộc bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy, thuộc huyện Quan Sơn, có phong cảnh núi non hùng vĩ thơ mộng gắn với câu chuyện tình bi ai của đôi trai tài gái sắc Mường Xia, Mường Mìn. Tương truyền rằng, xưa kia là nơi đôi trai gái yêu nhau tha thiết. Cô gái là nàng Lá Nọi - con gái một nhà lang đạo giàu có nổi tiếng khắp vùng Mường Mìn. Chàng trai là con nhà tạo Mường Xia, nhưng gia đình khốn khó, không tương xứng với ông tạo Mường Mìn. Mối tình của họ không được cha mẹ cô gái chấp nhận, họ quyết gả bán cô cho một nhà tạo giàu sang. Không chấp nhận hôn nhân không có tình yêu, bất chấp sự ngăn cấm của cha mẹ, anh em họ hàng, họ vẫn đến với nhau bằng tình yêu tha thiết, thề nguyền mãi mãi bên nhau, cùng chết bên nhau để biến vào núi Pha Dùa và lên đỉnh núi cao làm thần hai Mường. Từ đó, mỗi độ xuân về trai gái Mường Xia có tục du xuân vào hang Dùa cầu duyên, cùng nhau chơi cát bên chân núi, ném còn ngoài bãi sông và lắng nghe lời tình tự của đôi trai gái Mường Xia - Mường Mìn năm xưa. | Pha Dùa |
| 6 | Núi Pha Phanh | Núi Pha Phanh thuộc huyện Quan Sơn, là một dãy núi đá kéo dài từ bản Na Hồ, bản Xuân Sơn (xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn) xuống xã Nam Động về xã Nam Tiến (huyện Quan Hóa) dài hơn 30 km, tạo thành bức tường đá bảo vệ quê hương, bảo vệ căn cứ kháng chiến của ta thời chống Pháp. Thời kỳ 1948 - 1953, Ủy ban hành chính kháng chiến xã Sơn Thủy từng đặt ở khu vực núi Pha Phanh để lãnh chỉ đạo cuộc kháng chiến của địa phương. | Pha Phanh |
| 7 | Núi Pù Mằn | Núi Pù Mằn là núi đất, có độ cao 1.247m so với mực nước biển, thuộc bản Ngàm, xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn, là địa danh nổi tiếng của khu vực miền núi Thanh Hóa. Pù Mằn cùng với Pù Kùn của bản Xum (xã Sơn Hà) và ngọ Nóc Ngua, bản Nà Đang (xã Phú Lâm) tạo nên quần thể 3 đỉnh núi cao và thiêng của khu vực này. Ở đây có rất nhiều động vật quý hiếm sinh sống (như: khỉ, vượn, sóc, gấu, nai, hổ, báo, đười ươi,...) và có nhiều loại gỗ quý. | Pù Mằn |
| 8 | Sông Lò | Sông Lò thuộc huyện Quan Sơn, là tên con sông bắt nguồn từ Mường Pao, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, Lào chảy qua huyện Quan Sơn, dài trên 62 km đổ ra Sông Mã. Sông Lò gắn với nhiều dấu ấn lịch sử, di tích lịch sử cách mạng cầu Phà Lò bắc qua Sông Lò được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2011. | Sông Lò |
3.18. Huyện Quảng Xương: 17 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Đã đặt |
| 1 | Cầu Thạch Châu | Cầu Thạch Châu vượt qua sông Yên nối giữa 02 xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xương và xã Hải Châu, huyện Tĩnh Gia. | Đã đặt tên công trình công cộng | |
| 2 | Đồn Điền | Đồn Điền thuộc huyện Quảng Xương, tên gọi từ thời Hậu Lê của xã Quảng Thái. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồn Điền |
|
| 3 | Làng Bồi Nguyên | Làng Bồi Nguyên có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bồi Nguyên |
|
| 4 | Làng Cự Nham | Làng Cự Nham (Kẻ Mom) thuộc huyện Quảng Xương, tên xa xưa của xã Quảng Nham. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cự Nham |
|
| 5 | Làng Hải Nhuận | Làng Hải Nhuận thuộc huyện Quảng Xương, tên cũ từ năm 1954, nay thuộc xã Quảng Hải. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hải Nhuận |
|
| 6 | Làng Mậu Xương | Làng Mậu Xương có từ xa xưa, tên gọi đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, nay làng thuộc xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương; làng có ngôi đền Mậu Xương nổi tiếng được nhiều người biết đến, chùa Mậu Xương được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. | Mậu Xương |
|
| 7 | Làng Nhân Hậu | Làng Nhân Hậu là làng có từ xa xưa, xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX, trước đây thuộc tổng Lưu Vệ (nay thuộc xã Quảng Trạch) huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nhân Hậu |
|
| 8 | Làng Phú Đa | Làng Phú Đa thuộc xã Quảng Đức xuất hiện từ đầu thời Nguyễn thuộc tổng Thái Lai, huyện Quảng Xương. Hiện nay tên Phú Đa vẫn được dùng để gọi tên cho một vài làng trên địa bàn các xã, thị trấn thuộc huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Đa |
|
| 9 | Làng Sênh | Làng Sênh thuộc huyện Quảng Xương, tên có từ xưa, nay thuộc xã Quảng Nhân, có câu ca: “Đất mạ làng Bùi, cùi dứa làng Sênh, cột đình làng Mậu”...để chỉ việc so sánh các đặc điểm, đặc trưng của các địa phương, đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian. | Làng Sênh |
|
| 10 | Làng Thiên Linh | Làng Thiên Linh xưa thuộc xã Thiên Linh, nay thuộc xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tên gọi Làng Riềng. | Thiên Linh |
|
| 11 | Thôn Khang Bắc | Thôn Khang Bắc có trước năm 1954, nay thuộc xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương. | Khang Bắc |
|
| 12 | Thôn Lưu Hiền | Thôn Lưu Hiền có từ đầu thế kỷ XIX, là tên gọi một thôn thuộc xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương. Nay là làng Lưu Hiền thuộc xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lưu Hiền |
|
| 13 | Thôn Mỹ Trạch | Thôn Mỹ Trạch có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Lưu Vệ, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Quảng Trạch, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mỹ Trạch |
|
| 14 | Thôn Tiền Thịnh | Thôn Tiền Thịnh có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc xã Quang Tiền, tổng Thái Lai, phủ Tĩnh Gia nay thuộc xã Quảng Đức, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tiền Thịnh |
|
| 15 | Thôn Triều Công | Thôn Triều Công có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Triều Công |
|
| 16 | Xã Ngọc Giáp | Xã Ngọc Giáp có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Thủ Hộ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc xã Quảng Chính. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Giáp |
|
| 17 | Xã Ngọc Trà | Xã Ngọc Trà có từ thời Gia Long, nay thuộc xã Quảng Trung, huyện Quảng Xương. Địa danh này là tên gọi quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Ngọc Trà |
|
3.19. Huyện Thạch Thành: 07 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Bãi Chào Cờ | Bãi Chào Cờ - bãi đất rộng ven sông Bưởi giáp ranh giữa hai làng Trường Cát và Phú Sơn (nay thuộc khu phố 6, thị trấn Kim Tân) thuộc huyện Thạch Thành. Nơi đây Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Thạch Thành đã tổ chức cuộc mít tinh lớn để ra mắt Nhân dân trong huyện và biểu dương khí thế cách mạng khi Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Thạch Thành được thành lập sau cuộc biểu tình giành chính quyền ở huyện lỵ Kim Tân ngày 19/8/1945. | Chào Cờ |
| 2 | Làng Đồng Nga | Làng Đồng Nga là tên gọi một làng cổ thuộc xã Thành Kim trước đây, được tách ra để thành lập thị trấn Kim Tân (1990), nay địa phận thuộc một phần của khu phố 3, thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Nga |
| 3 | Làng Đồng Ngư | Làng Đồng Ngư là tên một làng cổ thuộc xã Thành An, huyện Thạch Thành. Đồng thời, là tên một công trình thủy lợi Hồ chứa nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống Nhân dân 06 xã khu vực Tây Bắc, huyện Thạch Thành. Đây là công trình lớn đầu tiên của huyện trong thời kỳ đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (kế hoạch 05 năm lần thứ nhất (1960 - 1965). Đây là địa danh quen thuộc, Nhân dân quen dùng. | Đồng Ngư |
| 4 | Làng Mường Đẹ | Làng Mường Đẹ thuộc làng Quảng Giang, nay là xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành. Xưa kia gọi là Làng Đẹ, Mường Đẹ, là nơi gắn liền với dòng họ Nguyễn Đình liên quan đến họ Nguyễn Gia Miêu. Lịch sử ghi nhận nơi đây đã di dời làng phục vụ xây dựng sân bay dã chiến Thạch Quảng năm 1972 và xây dựng Nông trường 26/3. Mường Đẹ cũng là nơi anh hùng phi công Vũ Xuân Thiều xuất kích, điều khiển chiếc máy bay MiG-21 tiêu diệt B-52 của Mỹ trong trận “Điện Biên Phủ trên không” đêm 28/12/1972. | Mường Đẹ |
| 5 | Làng Ngọc Đồng | Làng Ngọc Đồng thuộc huyện Thạch Thành, trước năm 1945 thuộc tổng Trường Cát, nay là làng Hoàng Thành, xã Thành Hưng. Trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX là một căn cứ của nghĩa quân Cần Vương. Khi khởi nghĩa Ba Đình thất bại, giặc Pháp tấn công lên khu vực này và đàn áp hết sức dã man dân làng, xác người ngổn ngang thành bãi chôn chung cả làng, giặc Pháp đã buộc Triều Nguyễn xóa tên làng, làng bị triệt hạ. Khoảng năm 1924 khi Hà Văn Ngoạn (người Vĩnh Lộc) làm Tri huyện Thạch Thành cho khôi phục làng và lấy tên là làng Nhân Phúc, đến năm 1963, dân Hoằng Hóa lên định cư, làng đổi tên thành làng Hoàng Thành. | Ngọc Đồng |
| 6 | Làng Phú Lộc | Làng Phú Lộc thuộc huyện Thạch Thành, trước năm 1945, thuộc tổng Trường Cát, nay thuộc xã Thành Hưng. Làng Phú Lộc có Nghè và Mộ thờ các vị tướng thời Trần là Lê Phúc Hồng và Lê Phúc Quý, có công đánh giặc Chiêm Thành; là quê hương của Nguyễn Trí Đạo (Quận Đạo) - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời, Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Thạch Thành giai đoạn 1945-1949. Nhân dân làng Phú Lộc từng nuôi giấu nhiều chiến sỹ cách mạng thời tiền khởi nghĩa, trong đó có đồng chí Trần Tiến Quân là lãnh đạo Chiến khu Ngọc Trạo năm 1941. | Phú Lộc |
| 7 | Sách Khôi | Sách Khôi thuộc huyện Thạch Thành, tên một đơn vị hành chính thời Lê Sơ, nay thuộc một phần đất huyện Thạch Thành. Năm 1422, khi nghĩa quân Lam Sơn bị vây hãm ở Quan Du, Lê Lợi đã rút về Sách Khôi chiến đấu chém chết tướng giặc Phùng Quý, buộc Mã Kỳ, Trấn Trí phải tháo chạy về Đông Quan. Nghĩa quân đã bảo toàn được lực lượng. | Sách Khôi |
3.20. Thành phố Sầm Sơn: 15 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
| 1 | Cầu Bến | Cầu Bến thuộc xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn, có từ thời Nguyễn, là cầu bắc qua sông Rào. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cầu Bến |
|
| 2 | Cầu Bùi | Cầu Bùi thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn, có từ thời Nguyễn, là cầu bắc qua sông Rào. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cầu Bùi |
|
| 3 | Cầu Cửa Hới | Cầu Cửa Hới là cầu vượt qua sông Mã nối giữa huyện Hoằng Hóa và thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đã đặt tên công trình công cộng | |
| 4 | Cống Sông Đơ | Cống Sông Đơ thuộc thị xã Sầm Sơn, tên 1 cửa sông đổ ra biển, có âu thuyền tránh bão ở chân núi Trường Lệ, giáp ranh phường Trường Sơn và phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Sông Đơ |
|
| 5 | Làng Cá Lập | Làng Cá Lập (làng Trấp) nay thuộc các phường Quảng Cư, Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, được hình thành trước thời Trần (thế kỷ XIII). Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cá Lập |
|
| 6 | Làng Du Vịnh | Làng Du Vịnh (sở Đồn Điền) thuộc phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn, thành lập năm 1471-1472, thời vua Lê Thánh Tông. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Du Vịnh |
|
| 7 | Làng Hới | Làng Hới thuộc phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, nơi có đền thờ làng Hới được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ và phát huy tác dụng tại Quyết định số 249/VHQĐ ngày 17/10/1993. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Làng Hới |
|
| 8 | Làng Lộc Trung | Làng Lộc Trung (tên nôm là làng Giữa) nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tên gọi có từ thời Gia Long. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lộc Trung |
|
| 9 | Làng Mỹ Lâm | Làng Mỹ Lâm thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn. Năm 1681, đời vua Lê Hy Tông, ông tổ dòng họ Phạm Văn làm quan trong triều, giữ chức Tri Phủ Hoài Nhân khi về hưu ông đưa vợ con sinh cơ lập nghiệp, và sau này cháu đời thứ tư của ông đội đơn triều đình xin phép được lập làng Mỹ Lâm ngày nay. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mỹ Lâm |
|
| 10 | Làng Nho Quan | Làng Nho Quan thuộc phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn. Khoảng thế kỷ XV, XVI, làng có tên là làng Văn, đến thế kỷ XVIII, làng được đổi tên thành Nho Quan. Làng Nho Quan gồm 4 xã: Đông, Mới, Trại, Tây. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nho Quan |
|
| 11 | Làng Thủ Phú | Làng Thủ Phú (tổng Thủ Hộ) thuộc xã Quảng Đại, thành phố Sầm Sơn, có từ đầu thời Nguyễn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thủ Phú |
|
| 12 | Làng Triều Dương | Làng Triều Dương (tên nôm là làng Trào) thuộc xã Triều Thanh Lộc, tổng Giặc Thượng, rồi Kính Thượng, Cung Thượng, nay là phường Trung Sơn, thành phố Sầm Sơn. Làng Triều Dương thờ tổ sư nghề dệt là Bà Triều. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Triều Dương |
|
| 13 | Làng Trường Tân | Làng Trường Tân thuộc xã Lương Xá, tổng Phủ Hộ, rồi tổng Phủ Chính, nay là xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn. Đây là một trong những làng cổ được hình thành rất sớm ở vùng đất ven biển tỉnh Thanh Hóa; đời vua Minh Mạng lấy tên là làng Trường Tân. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Trường Tân |
|
| 14 | Làng Xuân Phương | Làng Xuân Phương (tên nôm là làng Lan) nay thuộc phường Quảng Châu, thành phố Sầm Sơn, làng do di dân Chiêm Thành thời nhà Trần lập nên. Sang đầu thế kỷ XIX đến đời vua Đồng Khánh là thôn Xuân Phương thuộc xã Giặc Hạ, tổng Giặc Thượng, sau đổi thành Kính Thượng, rồi Cung Thượng. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Xuân Phương |
|
| 15 | Tân Đức | Tân Đức là tên con đường thuộc khu phố Phúc Đức, ghép 02 xóm là xóm Tân và xóm Đức của xã Quảng Tiến trước đây, nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tân Đức |
|
3.21. Thành phố Thanh Hóa: 58 địa danh
| STT | Tên địa danh | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
| 1 | Bãi Gành | Bãi Gành thuộc xã Hoằng Lý, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh cổ, là tên một địa điểm khảo cổ thời kỳ văn hóa Đông Sơn, đã tìm thấy nhiều di vật bằng đồng: rìu, giáo, vòng trang sức và các loại vũ khí như: rìu chiến, dao găm. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Bãi Gành |
|
| 2 | Bôn Giàng thuộc thành phố Thanh Hóa, được nối thông từ bến đò Giàng phường Thiệu Khánh qua Thiệu Vân, Thiệu Giao và làng Bôn xã Đông Thanh huyện Đông Sơn, nối với quốc lộ 45. Đây là địa danh của tuyến đường Nhân dân thường quen gọi từ xa xưa, là tuyến đường chiến lược trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. | Bôn Giàng |
| |
| 3 | Cát Đằng thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Đằng được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cát Đằng |
| |
| 4 | Cát Hòa thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Hòa được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân, hiện Nhân dân vẫn quen dùng. | Cát Hòa |
| |
| 5 | Cát Khang | Cát Khang là địa điểm (tuyến đường) thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Khang được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Cát Khang đã ăn sâu vào tiềm thức Nhân dân. | Cát Khang |
|
| 6 | Cát Phú | Cát Phú là địa điểm (tuyến đường) thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Phú được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012 xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa, nhân dân dùng tên Cát Phú để gọi cho tuyến đường qua xã Quảng Cát. | Cát Phú |
|
| 7 | Cát Thành | Cát Thành thuộc thành phố Thanh Hóa, tên địa điểm (tuyến đường), tên Cát Thành được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa điểm được Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa. | Cát Thành |
|
| 8 | Cát Tiến | Cát Tiến thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Tiến được Nhân dân lấy tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Nhân dân thường dùng tên Cát Tiến gọi cho tuyến đường đi qua khu vực này. | Cát Tiến |
|
| 9 | Cát Yên | Cát Yên thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Cát Yên được Nhân dân lấy từ tên của một xóm có từ năm 1954 thuộc xã Quảng Cát, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Cát sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Nhân dân thường dùng tên gọi Cát Yên cho tuyến đường đi qua khu vực này. | Cát Yên |
|
| 10 | Chiến Lược | Chiến Lược thuộc thành phố Thanh Hóa, được nối từ đường quốc lộ 1A cũ (nay là đường Văn Tiến Dũng đến bến Phà 2 thuộc xã Hoằng Lý (nay là phường Tào Xuyên) thành phố Thanh Hóa, là con đường vận tải trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Chiến Lược |
|
| 11 | Đồng Bài thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa, ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Bài |
| |
| 12 | Đồng Bái, tên một địa điểm (tuyến đường) được lấy tên từ một xứ đồng đã trồng trọt rau màu và đã nuôi dưỡng các thế hệ con cháu ăn học thành tài, sau này cánh đồng này đã được Nhân dân đầu tư xây dựng thành một khu dân cư, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. | Đã đặt tên đường | ||
| 13 | Đồng Mai thuộc thành phố Thanh Hóa, tên Đồng Mai được Nhân dân lấy từ tên của xứ Đồng Mai có từ trước năm 1945, thuộc tổng Cung Thượng, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia. Từ năm 1954 đến 2012 thuộc xã Quảng Tâm, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Tâm sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là tên gọi đã ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân, hiện Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa và nay vẫn thường dùng. | Đồng Mai |
| |
| 14 | Hợp tác xã Đại Phú | Hợp tác xã Đại Phú thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên của một hợp tác xã nông nghiệp thuộc phường Thiệu Khánh, đây là hợp tác xã nông nghiệp tiêu biểu trong những năm 1977,1978 có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi. | Đại Phú |
|
| 15 | Hợp tác xã Hồng Phong | Hợp tác xã Hồng Phong thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của hợp tác xã đầu tiên được thành lập năm 1954 của xã Quảng Tâm, nay là phường Quảng Tâm. | Hồng Phong |
|
| 16 | Hợp tác xã Kiều Thắng | Hợp tác xã Kiều Thắng được thành lập từ năm 1960. Đây là một trong những hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của xã Hoằng Đại, tiêu biểu có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi. | Kiều Thắng |
|
| 17 | Hợp tác xã Kiều Tiến | Hợp tác xã Kiều Tiến được thành lập từ năm 1960. Đây là hợp tác xã nông nghiệp đầu tiên của xã Hoằng Đại, tiêu biểu có những mô hình sản xuất tốt, năng suất sản lượng đạt khá, đã được tỉnh, huyện khen thưởng, biểu dương về sản xuất và chăn nuôi. | Kiều Tiến |
|
| 18 | Làng Cổ Ninh | Làng Cổ Ninh có từ năm 1945, thuộc xã Liên Hoa, huyện Đông Sơn, nay là thành phố Thanh Hóa. Năm 1947 - 1953 thuộc xã Đại Bái, từ năm 1953 đến nay làng Cổ Ninh thuộc xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Cổ Ninh |
|
| 19 | Làng Đại Độ | Làng Đại Độ có từ năm 1953, thuộc thành phố Thanh Hóa. Tháng 11 năm 1953, xã Đông Hưng được chia tách thành 2 xã Đông Hưng và Đông Tân, xã Đông Tân có 6 làng gồm làng Đống, làng Yên Hoạch, làng Viện Giang, làng Lộc Giang, làng Phù Lưu và làng Đại Độ. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đại Độ |
|
| 20 | Làng Đại Khánh | Làng Đại Khánh thuộc thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Vồm, đầu thế kỷ XIX tên là xã Đại Khánh thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn. Đây là một địa danh cổ có từ xưa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đại Khánh |
|
| 21 | Làng Đại Tiền | Làng Đại Tiền thuộc thành phố Thanh Hóa, có từ đầu thế kỷ XIX. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Đại Tiền thuộc phủ Hà Trung, năm 1945 được sáp nhập về tổng Bái Trạch, năm 1946, thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Đại Tiền thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được thành lập, làng Đại Tiền thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đại Tiền |
|
| 22 | Làng Doanh Xá | Làng Doanh Xá nay thuộc phường Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Chành, đầu thế kỷ XIX tên là xã Doanh Xá, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, là địa danh cổ. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Doanh Xá |
|
| 23 | Làng Duy Tiếu | Làng Duy Tiếu từ khi mới hình thành là một làng lớn gồm làng Hưng Đồng, làng Duy Hưng và nay là phố 6, phố 7 phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đường Duy Tiếu chạy qua địa bàn của hai phố. | Đã đặt tên đường | |
| 24 | Làng Đồng Me | Làng Đồng Me có từ cuối thế kỷ XIX, thuộc thành phố Thanh Hóa, trước năm 1960 làng Đồng Me thuộc xã Thiệu Tân, năm 1960 làng Đồng Me sáp nhập về xã Thiệu Vân, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, xã Thiệu Vân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đồng Me |
|
| 25 | Làng Đức Hậu | Làng Đức Hậu có từ khi mới hình thành và được Nhân dân thường dùng, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đã đặt tên đường | |
| 26 | Làng Nhân Phong | Làng Nhân Phong nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Làng Nhân Phong đã có từ khi mới hình thành và được Nhân dân thường dùng. Hiện tên Nhân Phong được đặt cho tuyến đường thuộc phường Quảng Hưng. | Đã đặt tên đường | |
| 27 | Làng Hà Phương | Làng Hà Phương có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc thành phố Thanh Hóa, trước Cách mạng tháng Tám 1945 làng Hà Phương thuộc phủ Hà Trung, năm 1945 được sáp nhập về tổng Bái Trạch, năm 1946 thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Hà Phương thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được thành lập, làng Hà Phương thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hà Phương |
|
| 28 | Làng Hiểu Lâm | Làng Hiểu Lâm nay thuộc xã Thiệu Vân, thành phố Thanh Hóa, tên làng cổ có từ thời Lê. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hiểu Lâm |
|
| 29 | Làng Hưng Giang | Làng Hưng Giang thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của một làng có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Giang |
|
| 30 | Làng Hưng Thuận | Làng Hưng Thuận có từ khi mới hình thành, sau này làng đã đổi thành nhiều tên khác nhau, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Hiện tên Hưng Thuận đã dùng đặt tên cho tuyến đường thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. | Đã đặt tên đường | |
| 31 | Làng Hưng Xá | Làng Hưng Xá được lấy tên của hai làng trước đây, sau này sáp nhập thành một phố đó là làng Văn Xá và làng Hưng Thọ. Hiện tên Hưng Xá được đặt cho tuyến đường chạy qua làng Hưng Xá và làng Hưng Thọ nhưng chung một phố, được gọi là phố 4, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. | Đã đặt tên đường | |
| 32 | Làng Lam Hà | Làng Lam Hà thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, làng Lam Hà thuộc xã Đại Bái, huyện Hoằng Hóa. Năm 1947, xã Đại Bái sáp nhập với xã Hoằng Lộc gọi là xã Hoằng Lộc, làng Lam Hà thuộc xã Hoằng Lộc. Năm 1953, xã Hoằng Đại được thành lập, làng Lam Hà thuộc xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa. Năm 2012, xã Hoằng Đại sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lam Hà |
|
| 33 | Làng Mân Trung | Làng Mân Trung thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Nguyễn, thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Năm 1948-1977, làng Mân Trung thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, từ 1977-1982 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Thiệu, từ 1988 đến 2012, thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Lĩnh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Mân Trung |
|
| 34 | Làng Nhân Thọ | Làng Nhân Thọ thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thế kỷ XIX, trước năm 1945 làng Nhân Thọ thuộc tổng Lưu Thanh, phủ Quảng Xương. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thuộc xã Trần Hưng Đạo, huyện Quảng Xương. Năm 1948 xã Trần Hưng Đạo sáp nhập với xã Tống Duy Tân thành xã Quảng Hưng (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Nhân Thọ |
|
| 35 | Làng Phú Ân | Làng Phú Ân thuộc thành phố Thanh Hóa, tên nôm là làng Đọ. Đây là một địa danh cổ có từ xưa nằm ở phía Tây phường Thiệu Khánh ngày nay. Làng có từ thời nhà Nguyễn, trước năm 1900, làng Phú Ân thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên. Năm 1900, đời Vua Thành Thái thứ 12, làng Phú Ân thuộc huyện Thụy Nguyên. Sau năm 1945, làng thuộc xã Đại Tân huyện Thiệu Hóa, năm 1953 làng thuộc phường Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, phường Thiệu Khánh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Ân |
|
| 36 | Làng Phú Cốc | Làng Phú Cốc có từ cuối thế kỷ XIX sau này tách thành làng Cốc Hạ và Cốc Thượng, thuộc tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, năm 1948 thuộc xã Đông Hương, huyện Đông Sơn. Năm 1971, xã Đông Hương được sáp nhập về thị xã Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Phú Cốc |
|
| 37 | Làng Tam Thọ | Làng Tam Thọ thuộc xã Đông Vinh, thành phố Thanh Hóa. Năm 1937 các nhà khảo cổ đã phát hiện khu lò gốm cổ và tiến hành khai quật, sau đó tên làng đã được lấy đặt tên cho di chỉ gốm - gọi là di chỉ gốm Tam Thọ. Năm 2004 được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa và khảo cổ cấp tỉnh. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Tam Thọ |
|
| 38 | Làng Thạch Đường | Làng Thạch Đường nay thuộc xã Đông Vinh, thành phố Thanh Hóa, tên một làng cổ có từ thời Lê. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thạch Đường |
|
| 39 | Làng Thanh Dương | Làng Thanh Dương thuộc thành phố Thanh Hóa, làng nằm ở phía đông phường Thiệu Khánh ngày nay. Làng có từ thế kỷ XIX, từ năm 1945 trở về trước, làng Thanh Dương thuộc tổng Đại Bối, phủ Thiệu Hóa, năm 1947 đến 1953, làng Thanh Dương thuộc xã Tân Dương, từ năm 1953, đến nay, làng Thanh Dương thuộc phường Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa. Năm 2012, phường Thiệu Khánh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thanh Dương |
|
| 40 | Làng Thủ Phác | Làng Thủ Phác nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Làng Thủ Phác đã có từ khi mới hình thành và được Nhân dân thường dùng. Đặt tên đường Thủ Phác là để các thế hệ sau này luôn nhớ về cội nguồn. | Đã đặt tên đường | |
| 41 | Làng Vân Nhưng | Làng Vân Nhưng thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Nguyễn, thuộc tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Năm 1948-1977, làng Vân Nhưng thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, từ 1977-1982 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Thiệu, từ 1988 đến 2012 thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Lĩnh sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Vân Nhưng |
|
| 42 | Làng Việt Yên | Làng Việt Yên thuộc thành phố Thanh Hóa, làng có từ thời nhà Trần (1226 - 1400), lúc mới thành lập làng Việt Yên có tên là Kẻ Vọt (Cồn Vọt). Thời Hậu Lê gọi là làng Việt Yên, đầu thế kỷ XIX là thôn Việt Yên. Trước năm 1945, làng Việt Yên thuộc tổng Lưu Thanh, phủ Quảng Xương. Sau năm 1945, làng Việt Yên thuộc xã Phan Đình Phùng, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Đông được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Việt Yên |
|
| 43 | Lý Cát thuộc thành phố Thanh Hóa, là địa điểm (tuyến đường) Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lý Cát |
| |
| 44 | Thôn Lam Cầu | Thôn Lam cầu có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Bái Trạch. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, thôn Lam cầu được đổi tên thành làng Hoằng Hóa nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lam Cầu |
|
| 45 | Thôn Lộc Giang | Thôn Lộc Giang thuộc thành phố Thanh Hóa, thôn có từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Pháp thuộc, thôn Lộc Giang thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Đông Sơn. Tháng 11/1947 xã Đông Hưng được thành lập, thời điểm này thôn Lộc Giang thuộc xã Đông Hưng. Tháng 11 năm 1953 xã Đông Tân được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Đông Hưng, thôn Lộc Giang được gọi là làng Lộc Giang, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Năm 2012 xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Lộc Giang |
|
| 46 | Thôn Viện Giang | Thôn Viện Giang thuộc thành phố Thanh Hóa, thôn có từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời Pháp thuộc, thôn Viện Giang thuộc tổng Quảng Chiếu, phủ Đông Sơn. Tháng 11/1947, xã Đông Hưng được thành lập, thời điểm này thôn Viện Giang thuộc xã Đông Hưng. Tháng 11 năm 1953, xã Đông Tân được thành lập trên cơ sở tách ra từ xã Đông Hưng, thôn Viện Giang được gọi là làng Viện Giang, xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Năm 2012, xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Viện Giang |
|
| 47 | Xã Tân Hiệp | Xã Tân Hiệp thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên một xã thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, là xã kết nghĩa với phường Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa. | Tân Hiệp |
|
| 48 | Xóm Đông Thành | Xóm Đông Thành là tên của một xóm có từ năm 1953 thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Đông sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Đông Thành |
|
| 49 | Xóm Hạnh Phúc | Xóm Hạnh Phúc thuộc thành phố Thanh Hóa, trước năm 1946 xóm Hạnh Phúc gọi là làng Đống thuộc xã Hưng Yên, phủ Đông Sơn. Sau năm 1954, làng Đống gọi là xóm Hạnh Phúc thuộc xã Đông Tân, huyện Đông Sơn. Từ năm 1992 đến nay, xóm Hạnh Phúc đổi thành thôn Tân Hạnh. Năm 2012, xã Đông Tân sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hạnh Phúc |
|
| 50 | Xóm Hưng Đồng | Xóm Hưng Đồng thuộc thành phố Thanh Hóa, tên của một xóm có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Đồng |
|
| 51 | Xóm Hưng Phúc | Xóm Hưng Phúc có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Phúc |
|
| 52 | Xóm Hưng Thịnh | Xóm Hưng Thịnh có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Thịnh |
|
| 53 | Xóm Hưng Thọ | Xóm Hưng Thọ có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Thọ |
|
| 54 | Xóm Hưng Tiến | Xóm Hưng Tiến có từ năm 1954, thuộc xã Quảng Hưng, huyện Quảng Xương. Năm 1995, xã Quảng Hưng được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa, nay thuộc thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Hưng Tiến |
|
| 55 | Xóm Thắng Sơn | Xóm Thắng Sơn thuộc thành phố Thanh Hóa, xóm có từ tháng 6/1959, theo chủ trương của Đảng để thuận tiện cho việc xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp cấp thấp quy mô xóm, xã Đông Hưng cũ của thành phố Thanh Hóa tổ chức thành 9 xóm, trong đó có xóm Thắng Sơn. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thắng Sơn |
|
| 56 | Xóm Thịnh Vạn | Xóm Thịnh Vạn thuộc thành phố Thanh Hóa, xóm có từ đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Lưu Vệ, huyện Quảng Xương, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hóa. Từ năm 1945 đến 1954, thuộc xã Quảng Thắng, năm 1954 đến 2012, thuộc xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương. Năm 2012, xã Quảng Thịnh được sáp nhập về thành phố Thanh Hóa. Đây là địa danh ăn sâu vào tiềm thức của Nhân dân. | Thịnh Vạn |
|
| 57 | Văn Chỉ thuộc thành phố Thanh Hóa, là tên tuyến đường Nhân dân đã quen gọi từ xa xưa nhưng chưa chính thức được đặt tên. (Văn Chỉ là nơi tôn vinh đạo học và diễn ra các hoạt động tế lễ, hay cổ vũ khuyến khích học hành thi cử của làng. Hiện nay ở phường Thiệu Dương vẫn còn bia Văn Chỉ). | Văn Chỉ |
| |
| 58 | Văn Thọ | Văn Thọ được lấy tên của hai làng trước đây là làng Văn Xá và làng Hưng Thọ, sau này sáp nhập thành một phố, nay thuộc phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa. Văn Thọ đã được dùng đặt tên cho tuyến đường chạy giữa hai làng nhưng chung một phố. | Đường |
3.22. Huyện Thiệu Hóa: 15 địa danh
3.23. Huyện Thọ Xuân: 15 địa danh
3.24. Huyện Thường Xuân: 16 địa danh
3.25. Huyện Triệu Sơn: 02 địa danh
3.26. Huyện Vĩnh Lộc: 21 địa danh
3.27, Huyện Yên Định: 08 địa danh
II. TỪ CÓ Ý NGHĨA TIÊU BIỂU VỀ CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI: 11 TỪ
| STT | Từ | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Dũng Cảm | Dũng Cảm: Là tinh thần chiến đấu quên mình vì tổ quốc hoặc vì nghĩa lớn cần phấn đấu. | Dũng Cảm |
| 2 | Hữu Nghị | Hữu Nghị: Có ý nghĩa gặp gỡ, quan hệ giao lưu thân thiện tốt đẹp. | Hữu Nghị |
| 3 | Hy Vọng | Hy Vọng: Là điều mong muốn ở thì tương lai tốt đẹp như ý muốn. | Hy Vọng |
| 4 | Như Ý | Như Ý: Là mong muốn của con người, từ tập thể, cá nhân đến xã hội và đất nước, nội dung là làm việc gì cũng được như ý muốn, ý nguyện. | Như Ý |
| 5 | Quyết Tâm | Quyết Tâm: Là ý chí, nghị lực cao cả để thực hiện bằng được mục đích và việc làm đã xác định ra. | Quyết Tâm |
| 6 | Tiến Bộ | Tiến Bộ: Là tiến hơn trước, nhanh hơn trước, chất lượng, kết quả hơn trước. | Tiến Bộ |
| 7 | Tiền Phong | Tiền Phong: Có ý nghĩa gương mẫu, đi đầu, đi trước. | Tiền Phong |
| 8 | Trung Dũng | Trung Dũng: Là từ nói về sự trung thành của con người với tổ quốc, Nhân dân và gia đình, bạn bè cùng chung một mục đích, lý tưởng, đồng thời để tỏ rõ lòng trung thành thì phải dũng cảm chiến đấu. | Trung Dũng |
| 9 | Thái Bình | Thái Bình: Là từ dùng để chỉ trạng thái yên ổn, không có loạn lạc, chiến tranh. | Thái Bình |
| 10 | Thái Lai | Thái Lai: Là từ dùng để chỉ tượng trưng cho sự hanh thông, sự lặp lại niềm vui, may mắn. | Thái Lai |
| 11 | Tương Lai | Tương Lai: Là kết quả, việc làm dự kiến sau giai đoạn hiện tại. | Tương Lai |
III. TÊN DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH CỦA TỈNH THANH HÓA: 53 di tích, danh lam thắng cảnh
1. Tên di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia trở lên: 35 di tích
| STT | Tên di tích | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng |
| 1 | Bảng Môn Đình | Bảng Môn Đình thuộc xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Bảng Môn Đình nghĩa là cửa vào của các nhà khoa bảng. Bảng Môn Đình không chỉ là nơi thờ Thành Hoàng làng mà còn là nơi quy tụ, vinh danh những con người đỗ đạt thành tài của làng. Bảng Môn Đình trở thành biểu tượng sự hiếu học của người Hoằng Lộc, được nhiều nơi biết đến. Năm 1990, Bảng Môn Đình đã được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia. | Bảng Môn Đình |
| 2 | Chùa Cách | Chùa Cách (chùa Ngọc Đới) thuộc địa phận làng Cách, xã Tuy Lộc, huyện Hậu Lộc. Chùa Cách là ngôi chùa cổ, còn lưu giữ số lượng tượng phong phú đa dạng về các loại hình, bao gồm 39 tượng gỗ, 4 thổ tượng và nhiều đồ thờ mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII-XIX. Chùa được Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật quốc gia năm 2011. | Chùa Cách |
| 3 | Chùa Hình Sơn | Chùa Hinh Sơn thuộc địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Chùa thuộc cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), chùa được tạo ra trong hang núi An Hoạch. Trên vách đá trước cửa chùa khắc ba chữ “Hinh Sơn động”, cấu trúc chùa gồm Tiền đường, Trung đường và Hậu cung. Trong chùa còn lưu giữ tấm bia ma nhai “Hinh Sơn cổ tự bi” được khắc niên hiệu Kiến Phúc (1884) ghi về việc tu tạo chùa. Chùa thờ Phật và Thánh Mẫu. Hậu cung có tượng Khổng Minh được khắc trực tiếp vào vách hang. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992. | Hinh Sơn |
| 4 | Chùa Hoa Long | Chùa Hoa Long nằm ở thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc. Chùa còn được gọi là chùa Bản Thủy. Chùa được xây dựng từ thời Trần. Khi khởi dựng, chùa quay mặt hướng Bắc, nằm bên cạnh hồ sen, bố cục theo hình chữ nhị gồm hai tòa nhà Tiền đường và Hậu cung liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất. Bên trái phía trước chùa là một dãy nhà ngang dùng làm nơi cho sư trụ trì và khách thập phương nghỉ chân. Hiện nay, chùa Hoa Long còn lưu giữ được đôi câu đối ghi lại sự kiện khởi dựng chùa thuở trước. Cụm di tích chùa Hoa Long - đền thờ Trần Khát Chân được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2004. | Chùa Hoa Long |
| 5 | Chùa Hương Nghiêm | Chùa Hương Nghiêm (tức Hương Nghiêm tự) ở thôn 3, xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1990, là một trong số ít ngôi chùa có lịch sử ra đời vào loại sớm nhất ở Thanh Hóa. Thời Nguyễn nơi đây thuộc xã Phủ Lý, tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa. Vùng đất này, từ Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần thường gọi là giáp Bối Lý. | Hương Nghiêm |
| 6 | Chùa Kênh | Di tích lịch sử bia Chùa Kênh (Hưng Phúc Tự) thuộc xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn là di tích lịch sử quốc gia năm 1995. Chùa Kênh được khởi công năm 1264, xây dựng hoàn chỉnh năm 1326. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, gắn liền với một thời kỳ phát triển rực rỡ của đạo Phật. Tấm bia đá Chùa Kênh là một công trình điêu khắc nghệ thuật, minh chứng cho những chiến công vang dội của quân và dân Sầm Sơn - Quảng Xương, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỉ XIII. | Chùa Kênh |
| 7 | Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh | Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh nằm trên địa bàn làng Duy Tinh, xã Thuần Lộc (trước đó là xã Văn Lộc). Chùa được xây dựng từ thời Lý và được Bộ Văn hóa, Thể thao xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật quốc gia năm 1990. | Sùng Nghiêm |
| 8 | Chùa Tường Vân | Chùa Tường Vân hay còn gọi là chùa Giáng thuộc khu phố 3, thị trấn Vĩnh Lộc. Hơn 600 năm tồn tại, gắn bó với vùng đất từng là kinh đô nước Đại Ngu, vương triều nhà Hồ (1400 - 1407), chùa Tường Vân là một trong những công trình kiến trúc quan trọng có giá trị nổi bật về ý nghĩa văn hóa cũng như lịch sử. Khi xây thành Tây Đô, Hồ Quý Ly đã cho làm một con đường từ cửa Nam tới chùa Tường Vân, đàn Nam Giao (đường Hoa Nhai hay đường Hoàng Gia) để các thân vương, quý tộc đến chùa lễ Phật cầu phúc cho chúng sinh, vì vậy chùa Tường Vân được coi là ngôi chùa quốc tự của vương triều Hồ. Được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2009. | Tường Vân |
| 9 | Chùa Vích | Chùa Vích thuộc xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc. Chùa được xếp hạng di tích cách mạng cấp tỉnh 1994, di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 2008. | Chùa Vích |
| 10 | Đền Am Tiên | Đền Am Tiên là một ngôi đền nằm ở núi Nưa, phố Cổ Định, thị trấn Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cao 585 m so với mực nước biển. Ngôi đền thuộc quần thể di tích lịch sử Quốc gia Am Tiên, trong đó bao gồm núi Nưa, Đền Nưa và Am Tiên, có tổng diện tích 100 ha. Nơi này là nơi khởi điểm dấy binh của Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng với anh trai là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa chống Đông Ngô. Vào ngày 27 tháng 3 năm 2009, quần thể di tích lịch sử Quốc gia Am Tiên đã được nhà nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp quốc gia. Đây là địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến. | Am Tiên |
| 11 | Đền An Lạc | Di tích lịch sử Đền An Lạc thuộc xã Hoằng Hải, huyện Hoằng Hóa, đây là nơi thờ vị Khai quốc công thần Lê Lai “Suy trung đồng đức, hiệp mưu, Bảo chính Lũng Nhai công thần” và các vị công thần thuộc dòng tộc của Lê Lai như: Hiệp Quận công Lê Lạn (em của Lê Lai); 3 người con Lê Lai (Thiếu úy Lê Lư, Thái bảo Lê Lộ, Thái úy Trung quốc công Lê Lâm) và Tể tướng Lê Niệm (con Lê Lâm, cháu Lê Lai). Di tích đã được xếp hạng quốc gia năm 2001. | An Lạc |
| 12 | Đền Cây Vải | Đền Cây Vải thuộc Khu di tích lịch sử và thắng cảnh Bỉm Sơn (bao gồm: Đèo Ba Dội, động Cửa Buồng, đình làng Gạo, đồi Ông, đền Sòng Sơn - Chín Giếng, đền Cây Vải và hồ Cánh Chim). Di tích hiện nay thuộc phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Tương truyền, đền thờ một người phụ nữ (gọi là bà Giếng) - được giao nhiệm vụ mở quán hàng ở gốc vải to để làm nhiệm vụ cảnh giới cho quân của Quang Trung khi đánh quân Thanh. Đền Cây Vải được xếp hạng là di tích quốc gia năm 1993. | Cây Vải |
| 13 | Đền Đàm Lê | Đền Đàm Lê thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa, di tích thờ Thái tổ Cao Hoàng đế và các Quận công họ Đàm. Kiến trúc di tích hình chữ Nhị gồm Tiền đường và Hậu cung. Hai bên Tiền đường là nhà Tả vu và Hữu vu. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993. | Đàm Lê |
| 14 | Đền Hổ Bái | Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Hổ Bái thuộc xã Yên Bái, huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định), là nơi thờ vị Lạc Hầu thời Hùng Vương dựng nước trong lịch sử Việt Nam. Đây là một di tích có giá trị nghiên cứu khoa học và giáo dục ý thức về cội nguồn dân tộc một cách sâu sắc. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993. | Hổ Bái |
| 15 | Đền Thanh Xuyên | Đền Thanh Xuyên thuộc xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, nay là thị xã Nghi Sơn. Đền Thanh Xuyên thuộc cụm di tích kiến trúc nghệ thuật và thắng cảnh Lạch Bạng (Đền Lạch Bạng, Thanh Xuyên, Du Xuyên và chùa Đót Tiên), là nơi thờ Thần hoàng - Người họ Nguyễn có công lập làng, lập ấp. Sự tích của Thần hoàng Thanh Xuyên được ghi lại trong tấm bia dựng ở đền. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1990. | Thanh Xuyên |
| 16 | Đền thờ Đề Lĩnh | Đền thờ Đề Lĩnh thuộc thôn Trung, xã Lương Niệm, phủ Quảng Xương, nay là tổ dân phố Khanh Tiến, phường Trung Sơn, thành phố Sầm Sơn. Ngôi đền nằm trên gò đất cao, rìa làng thờ thần Hoàng làng Lương Trung: Đường Công Quang Lộc, dân trong vùng thường gọi là Đề Lĩnh, ông là người làng Bồng Báo thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Đền thờ Đề Lĩnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1993. | Đề Lĩnh |
| 17 | Đền thờ Tây Phương Đại tướng quân | Đền thờ Tây phương Đại tướng quân (còn có tên gọi là đền Cá Lập) thuộc xã Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn (nay là phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn). Cá Lập là tên đền và cũng là tên làng. Ngoài ra còn có tên gọi là làng Trấp, đền thờ một vị tướng làm Thành Hoàng - Trần Đức và mười vị phúc thần khác, các vị đều là người có công với dân với nước, khi chết được làm thần. Để tưởng nhớ công lao to lớn của tướng quân Trần Đức, các triều đại phong kiến Việt Nam truy phong ngài là: Tây phương Đại tướng quân và cho lập đền thờ ông ngay tại quê nhà - thôn Cá Lập. Di tích được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1999. | Tây Phương |
| 18 | Đình Phương Chính | Đình Phương Chính thuộc phường Đông Lĩnh thành phố Thanh Hóa, đình thờ Thành Hoàng làng. Kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII có cấu trúc 2 tầng 8 mái, mỗi góc 4 cột bố trí đều nhau trên mặt bằng hình vuông. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1993. | Phương Chính |
| 19 | Đình Sét | Di tích kiến trúc Đình làng Sét thuộc xã Định Hải, huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định), là nơi thờ Đức Thành Hoàng là ông họ Trương gồm: Trương Cảnh Phúc, Trương Đình Lễ, Trương Đình Chinh có công phò vua Lê và chúa Trịnh Kiểm (1545-1569), Trịnh Tùng (1570-1623). Ngoài ra các ông còn có công giúp làng mở mang khai hóa thành lập làng. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1995. | Đình Sét |
| 20 | Đình Thượng | Đình Thượng thuộc Cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), đình nằm trên địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Đình là nơi thờ Thành Hoàng - Ông tổ nghề đục đá của làng An Hoạch. Đình Thượng cấu trúc theo kiểu chữ Đinh gồm Tiền đình và Hậu cung. Sân đình được bài trí tượng Võ sĩ, tượng quan hầu, voi đá, ngựa đá và hương án đá. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992. | Đình Thượng |
| 21 | Đình Trung | Đình Trung nằm trên địa bàn xã Hà Yên (nay là xã Yên Dương), huyện Hà Trung. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVII theo kiến trúc truyền thống và là một trong những di tích khá nguyên vẹn về kiến trúc điêu khắc. Đình làng thờ Thành Hoàng làng Tô Hiến Thành và là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa lâu đời của người dân địa phương. Hằng năm vào ngày 17, 18 tháng giêng Âm lịch, Nhân dân trong làng tổ chức lễ hội truyền thống để tỏ lòng thành kính với vị Thành Hoàng làng. Năm 2004, đình làng Đình Trung được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia. | Đình Trung |
| 22 | Đông Đoài | Đông Đoài thuộc xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, đây là nơi thờ 3 vị thần là: Du Dịch Đại vương, Càn Thiên công chúa và Chiêu Nghi công chúa (tên thật của bà là Mai Thị Ngọc Tiến). Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1994. | Đông Đoài |
| 23 | Đồng Ngầm | Đồng Ngầm thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn. Di chỉ khảo cổ học nằm quanh chân núi Bạch Thạch và núi Đào Sơn (thuộc làng Nhuận Thạch). Di chỉ khảo cổ học được phát hiện và đào thám sát năm 1975, từ cuối năm 1979 - 1980 khai quật khảo cổ, kết quả cho thấy di tích có 5 giai đoạn văn hóa phát triển liên tục tương đương với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn điển hình và Đông Sơn muộn. Hiện vật chủ yếu là đồ đá và đồ gốm có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Di chỉ khảo cổ học Đồng Ngầm (thuộc Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. | Đồng Ngầm |
| 24 | Đồng Vưng | Đồng Vưng thuộc xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn. Di chỉ khảo cổ học Đồng Vưng nằm quanh chân núi Bạch Thạch và núi Đào Sơn (thuộc làng Nhuận Thạch). Di chỉ được phát hiện, đào thám sát năm 1975, từ cuối năm 1979 - 1980 khai quật khảo cổ, kết quả cho thấy di tích có 5 giai đoạn văn hóa phát triển liên tục tương đương với các giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn điển hình và Đông Sơn muộn. Hiện vật chủ yếu là đồ đá và đồ gốm có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 năm. Di chỉ khảo cổ học Đồng Vưng (thuộc Cụm di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. | Đồng Vưng |
| 25 | Đường Thiên Lý | Đường Thiên Lý thuộc phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, thuộc khu di tích và thắng cảnh quốc gia Bỉm Sơn. Đường Thiên Lý nối giữa Ninh Bình và Thanh Hóa đi qua đèo Ba Dội và động Cửa Buồng, ranh giới giữa hai miền Bắc và miền Trung. Di tích đường Thiên Lý thuộc quần thể phòng tuyến Tam Điệp, con đường Thiên Lý quanh co uốn lượn qua bãi lau lách, hai bên đường là dãy núi đá sừng sững gợi lại những hình ảnh sống động và bước đường hành quân thần tốc của những người anh hùng áo vải Tây Sơn. | Thiên Lý |
| 26 | Hang chùa Quan Thánh | Hang Chùa Quan Thánh thuộc cụm di tích nghệ thuật và thắng cảnh quốc gia núi An Hoạch (núi Nhồi), di tích nằm trên địa bàn phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa. Chùa do Lê Đình Truyền người sở tại dựng vào năm Hoằng Định thứ 10 (1610), Trấn thủ Thanh Hóa là Nguyễn Trung Nghĩa tu bổ. Kiến trúc chùa nằm trong lòng hang. Nơi đây thờ tượng Quan Vũ, Chu Xương đời Hán Trung Quốc. Trong chùa có hệ thống các bia đá và các pho tượng khắc trên vách đá. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1992. | Quan Thánh |
| 27 | Hang Treo | Hang Treo là tên gọi hang đá thuộc xã Thành Tâm, huyện Thạch Thành, nơi thành lập Đội du kích Ngọc Trạo - Tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hóa. Hiện nay, Hang Treo là một di tích thuộc cụm di tích Chiến khu Ngọc Trạo được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1994. | Hang Treo |
| 28 | Lăng Hoàng Khảo | Lăng Hoàng Khảo thuộc làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, đây là nơi Đức Hoàng Khảo nhà Tiền Lê yên nghỉ. Ngài họ Lê, húy Mịch là thân phụ Hoàng đế Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Lăng được tôn tạo lại có diện tích 250m2, mộ được xây bằng đá nguyên khối, tường bao chạm hoa chanh, trụ gắn hoa sen, lưỡng hổ chầu uy nghiêm. Đây cũng là một trong các địa điểm của quần thể di tích Lê Hoàn đã được xếp hạng di tích quốc gia năm 1990. | Hoàng Khảo |
| 29 | Lăng Quốc Mẫu | Lăng Quốc Mẫu thuộc làng Yên Năng, xã Phú Yên (nay là xã Xuân Phú), huyện Thọ Xuân, là nơi Hoàng Thái hậu nhà Tiền Lê yên nghỉ - Người họ Đặng, húy Sen là thân mẫu Hoàng đế Lê Đại Hành (Lê Hoàn). Khu lăng mộ được tôn tạo lại trong khuôn viên cũ với tổng diện tích 1.714,3m2. Mộ Hoàng Thái hậu được làm bằng đá nguyên khối có tường bao quanh, chạm khắc hoa chanh với nghê chầu, hổ phục, hoa sen hàm tiếu. Di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1990. | Quốc Mẫu |
| 30 | Nghè Vẹt | Nghè Vẹt thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc. Nghè Vẹt là nơi thờ 10 đời chúa Trịnh, gồm: Trịnh Khanh Vương Trịnh Kiểm, Bình An Vương Trịnh Tùng, Thành Đô Vương Trịnh Tráng, Tây Đô Vương Trịnh Tạc, Bình Vương Trịnh Căn, An Đô Vương Trịnh Cương, Uy Nam Vương Trịnh Giang, Minh Đô Vương Trịnh Doanh, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, Đoan Đô Vương Trịnh Khải. Di tích có kiểu kiến trúc thế kỷ XVII, hình “chuôi vồ”. Nghè Vẹt được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1995. | Nghè Vẹt |
| 31 | Núi Bạch Thạch | Núi Bạch Thạch hay còn gọi là Núi Chiểu, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, là ngọn núi đá đẹp nổi tiếng xứ Thanh. Theo sử sách ghi lại Núi Bạch Thạch có đền thờ Tướng quân Thiều Thốn - một tướng giỏi thời nhà Trần. Núi Bạch Thạch (thuộc khu di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến) được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993. | Bạch Thạch |
| 32 | Núi Nấp | Di tích Núi Nấp, địa điểm thanh niên xung phong thuộc xã Đông Hưng, thành phố Thanh Hóa. Trong lịch sử, Núi Nấp là địa điểm trọng yếu của con đường vận chuyển hàng hóa, đạn dược chi viện cho tuyến miền Nam. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận bắn phá ác liệt trong cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ. Tại đây ngày 11/5/1967, 13 cô gái thanh niên xung phong cùng với 4 công nhân đường sắt hy sinh tại chỗ, 27 nam, nữ thanh niên xung phong khác bị thương do trận dội bom của Mỹ lên Núi Nấp. Di tích được xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1995. | Núi Nấp |
| 33 | Thạch Tuyền | Thạch Tuyền thuộc di tích nghệ thuật Đền Trung - đền Đông Đoài - chùa Thạch Tuyền, thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, là ngôi chùa cổ được xây dựng vào năm Cảnh Hưng (1740-1786) trùng tu năm 1936. Trong chùa còn lưu giữ 10 pho tượng Phật cổ có cùng thời gian dựng chùa. Chùa Thạch Tuyền, đền Trung, đền Đông Đoài đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích quốc gia năm 1994. | Thạch Tuyền |
| 34 | Từ đường Phúc Quang | Di tích lịch sử Từ đường Phúc Quang thuộc xã Định Hòa, huyện Thiệu Yên. Từ đường Phúc Quang là nơi thờ các vị Tổ họ Ngô Đồng Phang và các vị khai quốc công thần triều Lê là Ngô Kinh và Ngô Từ. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1995 và được cấp đổi năm 2016. | Phúc Quang |
| 35 | Vườn Trầu | Vườn Trầu thuộc Cụm di tích cách mạng Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, là khu vườn mà các Đảng viên Tân Việt Xuân Minh tổ chức làm kinh tế (như trồng trầu và nuôi gà). Đồng thời ở đó có một cuộc gặp quan trọng của các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ Thanh Hóa họp để kiểm điểm tình hình và cử đồng chí Nguyễn Xuân Thúy đi Nghệ An để nhận chỉ thị của xứ ủy để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh ủng hộ Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Vườn Trầu cũng là điểm liên lạc bắt mối của nhiều cán bộ cách mạng. Di tích được xếp hạng lịch sử cách mạng quốc gia năm 1993. | Vườn Trầu |
2. Tên danh lam thắng cảnh có giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa: 18 danh lam thắng cảnh
IV. TÊN PHONG TRÀO CÁCH MẠNG (Sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm Iược có giá trị tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa): 20 phong trào cách mạng, sự kiện lịch sử, chiến thắng chống xâm lược.
| STT | Tên sự kiện | Tóm tắt lý lịch | Tên dùng | Ghi chú |
| 1 | Ba mươi tháng tám (30/8) | Ngày 30 tháng 8 năm 1948 là ngày thành lập chi bộ Như Xuân tại nhà đồng chí Đỗ Kế Sức (nay thuộc thị trấn Bến Sung) do đồng chí Lê Đình Sằn, Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách miền Tây về dự và chỉ đạo, đồng chí Nguyễn Xuân Liêm được chỉ định làm Bí thư. | Ba mươi tháng tám (30/8) |
|
| 2 | Chi bộ Cố Gắng | Chi bộ Cố Gắng: Ngày 02/9/1947, ngày thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên - tiền thân của Đảng bộ thành phố Sầm Sơn (tại khu phố Trung Chính, phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn) và lấy tên là Chi bộ Cố Gắng. | Cố Gắng |
|
| 3 | Đồng Thanh | Đồng Thanh: Thực hiện chủ trương của Trung ương và Quân ủy khu 4 quyết tâm bảo vệ Thanh Hóa, năm 1947, huyện ủy Đông Sơn quyết định thành lập khu du kích Đồng Thanh gồm 4 thôn: Đại Đồng (nay là thị trấn Rừng Thông), Thanh Oai, Viên Khê, Tuyên Hóa (nay là xã Đông Khê). Chiến khu Đồng Thanh được hình thành là kết quả xây dựng lực lượng chiến tranh Nhân dân của Huyện ủy Đông Sơn chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tại chỗ và chi viện nơi khác nếu cần. | Đồng Thanh |
|
| 4 | Hai mươi hai tháng tư (22/4) | Ngày 22/4/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 933/NQ-UBTVQH14 về việc “Thành lập thị xã Nghi Sơn và các phường thuộc thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thị xã Nghi Sơn giáp các huyện Như Thanh, Nông Cống, Quảng Xương, tỉnh Nghệ An và biển Đông. Cùng với việc thành lập thị xã Nghi Sơn là việc thành lập 16 phường thuộc thị xã. Như vậy, sau khi thành lập thị xã Nghi Sơn có 31 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 phường và 15 xã. | Hai mươi hai tháng tư (22/4) |
|
| 5 | Hai mươi mốt tháng tám (21/8) | Ngày hai mươi mốt tháng tám (21/8/1945): Là ngày huyện Nông Cống khởi nghĩa thành công giành chính quyền, xóa bỏ hoàn toàn chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng do ông Đặng Văn Tường làm chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Nông Cống. | Hai mươi mốt tháng tám (21/8) |
|
| Ngày hai mươi mốt tháng tám (21/8/1945): Ngày diễn ra cuộc mít tinh và ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Thạch Thành. Sau cuộc biểu tình giành chính quyền ở huyện lỵ Kim Tân đêm 18 rạng ngày 19/8/1945 thắng lợi trọn vẹn. Ngày 21/8, cuộc mít tinh lớn toàn huyện được tổ chức tại huyện lỵ để ra mắt chính quyền mới. Tại cuộc mít tinh này, ông Nguyễn Trí Đạo thay mặt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tuyên bố giải tán hệ thống chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng gồm 05 thành viên do ông Nguyễn Trí Đạo làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời huyện Thạch Thành. | ||||
| 6 | Hai mươi tám tháng ba (28/3) | Ngày 28/3/1950, được Tỉnh ủy Thanh Hóa ủy nhiệm, Ban Miền Tây ra quyết định: Thành lập Đảng bộ huyện Quan Hóa. Ban Chấp hành đảng bộ lâm thời gồm 05 đồng chí, do đồng chí Trần Đảng làm Bí thư, được giao trách nhiệm chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất. | Hai mươi tám tháng ba (28/3) |
|
| 7 | Hai mươi tháng tám (20/8) | Ngày 20/8/1945, hàng vạn quần chúng và tự vệ trong huyện tập trung tại sân vận động huyện chào đón Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Tĩnh Gia. Đồng chí Lê Huy Tuần, Chủ tịch lâm thời huyện tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập Ủy ban nhân dân lâm thời huyện. Quần chúng vui mừng phấn khởi, tin tưởng đồng thanh hô vang khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Chính quyền cách mạng muôn năm”. | Hai mươi tháng tám (20/8) |
|
| 8 | Mùng hai tháng một (2/1) | Ngày 02-01-1946, tại nhà đồng chí Nguyễn Duy Phượng ở làng Thái Tượng, xã Tượng Sơn (nay thuộc huyện Nông Cống), Chi bộ Cộng sản huyện Tĩnh Gia được thành lập lại gồm 3 đồng chí: Lê Thế Sơn, Lương Đình Đạm và Nguyễn Duy Phượng, do đồng chí Lê Thế Sơn làm Bí thư Chi bộ. | Mùng hai tháng một (2/1) |
|
| 9 | Mùng hai tháng năm (2/5) | Ngày mùng 2 tháng 5 năm 1967 là ngày ký kết hợp tác đầu tiên giữa hai tỉnh Thanh Hóa - Hủa Phăn. | Mùng hai tháng năm (2/5) |
|
| 10 | Mùng mười tháng mười một (10/11) | Mùng mười tháng mười một (10/11/1945): Ngày thành lập Đảng bộ huyện Thạch Thành, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đông chí Đặng Văn Hỷ, Tỉnh ủy viên, Hội nghị Đảng bộ Vĩnh Thạch được triệu tập hợp tại nhà ông Ngô Du, phố Kim Tân, xã Minh Đạo. Hội nghị đã quyết định tách Đảng bộ Vĩnh Thạch, thành lập Chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương ở Thạch Thành gồm 07 đồng chí, làm nhiệm vụ lãnh đạo phong trào toàn diện của huyện như huyện Đảng bộ. Đồng chí Phạm Văn Giản được chỉ định làm Bí thư Chi bộ, đồng thời làm Bí thư Huyện ủy lâm thời. Từ đó, Đảng lãnh đạo chính quyền bằng đường lối, chủ trương thông qua các kỳ Đại hội Đảng bộ. | Mùng mười tháng mười một (10/11) |
|
| 11 | Mùng mười tháng sáu (10/6) | Ngày mùng mười tháng sáu (10/6): Ngày thành lập Chi bộ đảng đầu tiên huyện Yên Định. | Mùng mười tháng sáu (10/6) |
|
| 12 | Mùng năm tháng tám (5/8) | Ngày 05/8/1964, vào lúc 14h15, giặc Mỹ cho không quân thuộc hạm đội 7 đánh phá từ Hòn Nẹ đến cửa Lạch Trường. Dân quân Ngư Lộc, Hòa Lộc, Minh Lộc (Hậu Lộc) và Hoằng Trường (Hoằng Hóa), tự vệ Thủy sản Lạch Trường, đồn 74 Công an nhân dân vũ trang dùng súng máy phối hợp cùng cao xạ của tàu hải quân, súng 14.55 mm của Đại đội ra đa đánh trả, bắn rơi 2 chiếc máy bay của địch, góp phần vào chiến thắng chung ngày 5/8/1964 của quân dân cả nước đánh bại cuộc tấn công “Mũi tên xanh” của không quân Mỹ. | Mùng năm tháng tám (5/8) |
|
| 13 | Mùng sáu tháng mười hai (6/12) | Ngày 06-12-1930: Hội nghị thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Tĩnh Gia được tiến hành tại nhà đồng chí Nguyễn Văn Giảng, thuộc làng Hồ Thượng (nay thuộc phường Tân Dân, thị xã Nghi Sơn). Tham dự hội nghị gồm có các đồng chí Ngô Đức Mậu, Nguyễn Văn Giảng, Nguyễn Trinh Thụ, Lương Đình Đạm, Đỗ Khắc Toản, Lê Huy Tuần. Trong không khí trang nghiêm, đồng chí Ngô Đức Mậu trình bày chủ trương thành lập Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ, tuyên bố kết nạp 5 đồng chí có mặt trong hội nghị vào Đảng và tuyên bố thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên của Tĩnh Gia, do đồng chí Nguyễn Văn Giảng làm Bí thư Chi bộ. | Mùng sáu tháng mười hai (6/12) |
|
| 14 | Ngày 08-5 (dương lịch) hằng năm là ngày kỷ niệm Danh xưng Thanh Hóa. Theo Nghị quyết số 112/NQ-HĐND ngày 11/7/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa khóa XVII, tại kỳ họp thứ 6 về ngày kỷ niệm Danh xưng Thanh Hóa. | Mùng tám tháng năm (8/5) |
| |
| 15 | Mười chín tháng chín (19/9) | Mười chín tháng chín (19/9): Ngày thành lập đội du kích Ngọc Trạo. Ngày 19/9/1941, tại Hang Treo một địa điểm của căn cứ Ngọc Trạo, thay mặt Tỉnh ủy, Ban lãnh đạo chiến khu Ngọc Trạo đã thành lập Đội Du kích Ngọc Trạo. Đây là đội du kích vũ trang thoát ly đầu tiên của Chiến khu Ngọc Trạo. Đội du kích gồm 21 chiến sỹ ưu tú tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hóa sau này. Tại đây, lần đầu tiên xuất hiện cờ đỏ sao vàng. Đây là một trong những lực lượng du kích thoát ly tập trung được thành lập sau Hội nghị Trung ương 8/1941 của Đảng. Khi chiến khu thành lập, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy Thanh Hóa, các cơ sở cách mạng trong tỉnh chọn lựa những người ưu tú nhất trong đội tự vệ cử lên tham gia Chiến khu Ngọc Trạo. | Mười chín tháng chín (19/9) |
|
| 16 | Mười hai tháng ba (12/3) | Ngày 12/3/1940, Huyện ủy lâm thời Hậu Lộc được thành lập tại thôn Trần Phú, xã Mỹ Lộc, bầu ra Bí thư và BCH lâm thời. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào cách mạng của Hậu Lộc. Lần đầu tiên Hậu Lộc có một tổ chức Đảng lãnh đạo thống nhất từ huyện xuống cơ sở để đưa phong trào cách mạng trong huyện hòa nhập với phong trào chung của tỉnh. | Mười hai tháng ba (12/3) |
|
| Ngày 12/3/1960, tại thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa), lễ kết nghĩa giữa hai tỉnh Thanh Hóa - Quảng Nam được long trọng tổ chức. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, góp phần động viên, cổ vũ Đảng bộ và Nhân dân hai tỉnh thực hiện thắng lợi đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam thời điểm đó là: Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước. | ||||
| 17 | Mười lăm tháng hai (15/02) | Ngày 15/02/1949, là ngày Chi bộ Cộng sản đầu tiên - tiền thân của Đảng bộ huyện Lang Chánh ra đời. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Đảng bộ và phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc huyện Lang Chánh. | Đã đặt tên đường | |
| 18 | Mười sáu tháng tư (16/4) | Ngày 16/4/1934 là ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Vĩnh Lộc, do đồng chí Lê Văn Tân làm Bí thư, được thành lập ở làng Xuân Áng nay là xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc do đồng chí Lê Chủ chủ trì. | Mười sáu tháng tư (16/4) |
|
| 19 | Mười tám tháng hai (18/2) | Ngày 18/2/1946: Tại nhà Hội Giảng cầu Quan, là ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên Đảng bộ huyện Nông Cống, đồng chí Lê Thế Nguyên (tức Trần Nguyện Đông) làm Bí thư Chi bộ, địa điểm này xây dựng tượng đài thuộc xã Trung Chính, huyện Nông Cống. | Mười tám tháng hai (18/2) |
|
| 20 | Ngày mùng một tháng một (1/1) | Ngày 01/01/1931, một sự kiện trọng đại đã diễn ra tại làng Hồ Thượng. Đại biểu của các cơ sở Đảng trong tỉnh đã tiến hành Hội nghị tái thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa ở nhà đồng chí Nguyễn Văn Giảng. Hội nghị đã bầu 5 đồng chí vào Ban chấp hành Đảng bộ lâm thời. Trong đó, Chi bộ Tĩnh Gia được bầu 2 đồng chí Ngô Đức Mậu giữ chức Bí thư tỉnh ủy và đồng chí Nguyễn Văn Giảng là Tỉnh ủy viên. | Mùng một tháng một (1/1) |
|
V. TÊN DANH NHÂN: 220 danh nhân
1. Danh nhân đất nước: 18 danh nhân
| STT | Tên dùng | Quê quán | Tóm tắt lý lịch |
| 1 | Bùi Huy Bích | Hà Nội | Bùi Huy Bích (1744 - 1818) tự Hi Chương (hay Ảm Chương) hiệu Tồn Am, quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, Hà Nội, làm quan triều Lê đến chức tể tướng, ông còn là một nhà thơ, nhà biên soạn sách. |
| 2 | Hồ Biểu Chánh | Long An | Hồ Biểu Chánh (1885 - 1958) tên thật là Hồ Văn Trung, quê làng Bình Thành, huyện Kiến Hòa, nay thuộc tỉnh Long An. Ông là nhà văn lớn, có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với 64 cuốn tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn, 12 vở hài kịch và 5 tập thơ...Ông đã có công lao đóng góp vào sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. |
| 3 | Lê Cố | Thanh Hóa | Lê Cố (? - ?), quê huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, có tên trong danh sách 35 vị khai quốc công thần hàng đầu của nhà Lê, được phong tước Đường Quận công. |
| 4 | Nguyễn Đỗ Cung | Hà Nội | Nguyễn Đỗ Cung (1912 - 1977), quê Sơn Tây nhưng sinh ở làng Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội, ông nổi tiếng về sự nghiệp hội họa, là viện trưởng đầu tiên Viện mỹ thuật, mỹ nghệ Việt Nam, sáng lập ra Viện bảo tàng mỹ thuật, đồng thời cũng là một sáng lập viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam. |
| 5 | Nguyễn Quý Đức | Hà Nội | Nguyễn Quý Đức (1647 - 1720) quê làng Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông làm quan triều Lê, là một nhà chính trị xuất sắc có nhiều công trạng với triều đình và đất nước. |
| 6 | Đoàn Nhữ Hài | Hải Hưng | Đoàn Nhữ Hài (1280 - 1335), quê làng Hội Xuyên, huyện Trường Tân, Hồng Châu nay là huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Hưng. Ông làm quan dưới thời Trần, ông là một tài năng xuất sắc từ lúc còn thiếu niên, khá tiêu biểu cho con người tri thức toàn diện của nước ta dưới thời Trần, đặc biệt không bằng con đường khoa cử để tiến thân mà bằng thực học và bằng sự tích lũy nhiều kiến thức, vận dụng chính xác vào thực tiễn. |
| 7 | Nguyễn Hành | Hà Tĩnh | Nguyễn Hành (1771 - 1824), quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, chính tên là Nguyễn Đạm. Ông học rộng biết nhiều, có biệt tài về thơ, ông cùng Nguyễn Du được coi là hai trong số năm nhà thơ nổi tiếng nhất thời bấy giờ (thường gọi là An Nam ngũ tuyệt). |
| 8 | Văn Ký | Nam Định | Vũ Văn Ký (Văn Ký) (1928 - 2020), quê Vụ Bản, tỉnh Nam Định, lên 10 tuổi theo cha ở tại làng Bi Kiều, xã Trung Chính. Học hết tiểu học, bố mất nhà nghèo, ở với chú, ngày ngày gánh hành cùng người thím đi chợ Nưa. Tháng 10/1943 ông được đồng chí Trịnh Huy Tự giác ngộ vào Mặt Trận Việt Minh huyện Nông Cống. Tháng 10/1944 ông bị bắt giam tại nhà tù Thanh Hóa. Cách mạng thành công, ông được làm Trưởng Ban Tác chiến trong Ủy ban huyện Nông Cống, ông đi học âm nhạc kháng chiến quân khu IV trở thành nhạc sĩ nổi tiếng, được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2022. |
| 9 | Nguyễn Bá Lân | Hà Nội | Nguyễn Bá Lân (1700 - 1785), quê xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong nay là Cổ Để, huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội. Là một danh tướng dưới triều Lê Hiến Tông, ông còn nổi tiếng là danh sĩ, được ca ngợi là một trong bốn người giỏi ở Thăng Long (Trường An tứ hổ). |
| 10 | Đàm Văn Lễ | Bắc Ninh | Đàm Văn Lễ (1452 - 1505), quê làng Lãm Sơn, huyện Quế Dương, nay thuộc thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông làm quan dưới triều Lê, ông có nhiều đóng góp với văn hóa nước nhà, đồng thời ông còn là một nhà thơ. |
| 11 | Dương Không Lộ | Thái Bình | Dương Không Lộ (1016 - 1094), quê làng Giao Thủy, huyện Hải Thanh, tỉnh Thái Bình. Ông làm quan dưới triều Lý Nhân Tông và được phong làm quốc sư, ông cũng được xem là vị tổ nghề đúc đồng. |
| 12 | Hoàng Ngân | Nam Định | Hoàng Ngân (1921 - 1949), quê Nam Định, tên thật là Phạm Thị Vân là Bí thư Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc Việt Nam đầu tiên, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ nhiệm đầu tiên của báo Phụ nữ Việt Nam, một trong những người đi đầu của phong trào phụ nữ Việt Nam, vợ của đồng chí Hoàng Văn Thụ. |
| 13 | Lê Khả Phiêu | Thanh Hóa | Lê Khả Phiêu (1931 - 2020), quê xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII. Tháng 5/1950, ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam; Ông đã tham gia chiến đấu và trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên các chiến trường Bắc, Trung, Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, Campuchia; tham gia các chiến dịch lớn như: Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam (1975). Đặc biệt, ông đã có 10 năm tham gia giúp nước bạn Campuchia đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt (1979 - 1989), giúp hồi sinh dân tộc Campuchia. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VIII, ông được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Quân sự Trung ương và giữ cương vị này đến Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001). Ông là đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, X; được Đảng và Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng năm 1984, Trung tướng năm 1988, Thượng tướng năm 1992. |
| 14 | Hà Tông Quyền | Hà Tĩnh | Hà Tông Quyền (1798 - 1839), quê gốc ở Can Lộc, Hà Tĩnh sau di cư ra làng Cát Động, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây làm quan dưới triều Nguyễn, ông có tiếng về chính trị đồng thời ông cũng quan tâm đến văn nôm, ông có ba tập thơ Vịnh Kiều. |
| 15 | Đào Công Soạn | Hưng Yên | Đào Công Soạn (1376 - 1456), quê làng Tiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông làm quan triều Lê, có tài về ngoại giao sang sứ nhà Minh nhiều lần, ông đã lần lượt phụ trách nhiều ngành công tác trong triều. |
| 16 | Chu Thiên | Hà Nam | Chu Thiên (1913 - 1992) quê xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà sử học, nhà văn, tinh thông cả Nho học và Tây học. Nổi tiếng về những bộ tiểu thuyết lịch sử, trong đó phục dựng lại các biến cố, các nhân vật lịch sử, làm sống lại nhiều phong tục tập quán của xã hội Việt Nam truyền thống. |
| 17 | Bùi Viện | Thái Bình | Bùi Viện (1839 - 1878), quê làng Trình Phố, huyện Trực Định (nay là huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), làm quan dưới thời vua Tự Đức, là một trong những người đầu tiên xây dựng cảng Hải Phòng. Thành tựu của ông để lại có ý nghĩa mở đầu đối với yêu cầu duy tân ở các mặt thủy quan, thương mại hàng hải. |
| 18 | Ngô Thế Vinh | Nam Định | Ngô Thế Vinh (1802 - 1856), quê làng Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Tự là Trọng Dực, hiệu Trúc Đường, Dương Đình, đỗ tiến sĩ 1829, làm quan triều Nguyễn, đồng thời ông còn là một nhà giáo dục nổi tiếng nửa đầu thế kỷ XIX. |
2. Danh nhân, nhân vật lịch sử được suy tôn tại Thanh Hóa: 202 danh nhân
2.1. Danh nhân, nhân vật lịch sử là người ngoài tỉnh có đóng góp cho Thanh Hóa, được suy tôn tại Thanh Hóa: 07 danh nhân
| STT | Tên dùng | Quê quán | Tóm tắt lý lịch |
| 1 | Trương Văn Bang | Long An | Trương Văn Bang (1911 - 1981), quê quán làng Phước Lại, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Phước Lại, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An). Ông nguyên Bí thư Đảng ủy Nông trường Lam Sơn (huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa); Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. |
| 2 | Quách Đình Bảo | Thái Bình | Quách Đình Bảo (1434 - 1507), quê xã Phúc Khê, huyện Thanh Lan, nay là xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đỗ thám hoa (1463), làm quan triều Lê Thánh Tông, từ học sĩ Viện Hàn Lâm đến Thượng thư bộ Lễ bộ Hình. Ông là anh trai Quách Hữu Nghiêm, hai anh em cùng tham gia vịnh thơ khắc trong văn bia Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao ở Vĩnh Lăng Lam Kinh. Ông còn là 28 vì sao sáng trên bầu trời thơ văn Đại Việt lúc đó như: Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Lương Thế Vinh, Lê Hoằng Dục, Nguyễn Đình Mỹ... cho ra đời nhiều tập thơ: Hồng Đức quốc âm thi tập, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Xuân văn thi tập... ông là một thành viên tích cực của Tao đàn. Năm 1484, Lê Thánh Tông sai ông ghi chép họ tên thứ bậc các tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất Đại Bảo năm thứ 3 (1442) triều Lê Thái Tông đến khoa Giáp Thìn Hồng Đức năm thứ 15 (1484), tổng cộng 10 khoa, để bộ Công khởi công dựng bia Tiến sĩ (trong đó ghi chép rất nhiều những danh sĩ người Thanh Hóa). |
| 3 | Nguyễn Sỹ Dũng | Bình Định | Nguyễn Sỹ Dũng (? - ?), quê Bình Định. Theo gia phả dòng họ Nguyễn Sỹ ở làng Lộc Trung, phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, Nguyễn Sỹ Dũng tên thật là Vũ Văn Dũng; quê làng Phù Mỹ, xã Bình Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ông là hổ tướng số một trong 7 vị tướng tài của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII. Ông đã từng giữ chức Đại Tư Khấu, rồi Đại Tư Đồ dưới triều vua Nguyễn Quang Toản (con Quang Trung) và là người có nhiều công lao trong việc trấn thủ Bắc Thành (Hà Nội), chỉ huy nhiều trận đánh lớn chống thế lực thù địch ở đàng trong của Nguyễn Ánh thời bấy giờ, nổi nhất là trận Thị Nại năm 1800 - 1801. Sau khi vua Quang Trung mất, để tránh sự truy sát của Nguyễn Ánh, ông đã đưa gia đình chạy ra vùng đất Lộc Trung, Thanh Hóa (nay thuộc phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn) ẩn dật và đổi tên thành Nguyễn Sỹ Dũng. Để tưởng nhớ công lao của Đô đốc Nguyễn Sỹ Dũng, Nhân dân làng Lộc Trung lập đền thờ ông ở gần cửa Lạch Hới, phường Quảng Tiến ngày nay. Đền thờ Nguyễn Sỹ Dũng được Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 164/VHQĐ ngày 25/9/1993 và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 4190/QĐ-UBND ngày 14/12/2011. |
| 4 | Lý Nhật Quang | Ninh Bình | Lý Nhật Quang (995 - 1057), quê tỉnh Ninh Bình, là hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Vào nửa đầu thế kỷ XI, vua Lý đã cử ông vào trấn ải phương Nam, ông thay mặt triều đình cai quản phía nam, để ổn định xã hội và bảo vệ vùng phên dậu Đại Việt. Ông đã có công tổ chức và xây dựng được vùng căn cứ hậu cần vững chắc dọc tuyến sông Bà Hòa (sông Lạch Bạng) và dựng trại Bà Hòa (xã Trường Lâm) để dựng trại tập kết quân đội, cất giữ lương thực, giúp vua Lý Thái Tông đánh thắng Chiêm Thành. |
| 5 | Đinh Đức Thiện | Nam Định | Thượng tướng Đinh Đức Thiện (? - ?), quê Nam Định, ông nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, phụ trách công tác hậu cần kỹ thuật và vận tải thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Ông từng về huyện Thạch Thành và đã giúp huyện 03 máy phát điện phục vụ hoạt động của cơ quan Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện. |
| 6 | Vũ Xuân Thiều | Nam Định | Vũ Xuân Thiều (1945 - 1972), quê gốc ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa học tập và huấn luyện bay ở Liên Xô (trước đây), phi công Vũ Xuân Thiều trở về nước và được biên chế về Trung đoàn Không quân Sao Đỏ (E921). Tháng 12/1972, khi Mỹ mở rộng cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Vũ Xuân Thiều cùng đồng đội quyết tâm diệt B-52. Đêm 28/12/1972, Vũ Xuân Thiều cất cánh từ sân bay quân sự Cẩm Thủy (Thanh Hóa) bay đến vùng trời Sơn La thì gặp máy bay B-52 của Mỹ đang đánh vào Hà Nội. Vũ Xuân Thiều tấn công, máy bay B-52 của địch bốc cháy, vì ở cự ly quá gần anh đã hy sinh cùng lúc lập chiến công. Tháng 12/1994, ông đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân. |
| 7 | Hoàng Kế Viêm | Quảng Bình | Hoàng Kế Viêm (1820 - 1909), quê làng Văn La, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, ông làm quan cuối triều Nguyễn, là vị quan xuất sắc về mặt võ, có công dẹp yên được một số vụ rối loạn ở Bắc Kỳ. Năm 1854 ông được cử làm Bố chính Thanh Hóa. Ông còn quan tâm đến kinh tế như đào kênh thiết cảng ở Nghệ An, khai khẩn đất hoang ở quê nhà. |
2.2. Danh nhân, nhân vật lịch sử Thanh Hóa: 163 danh nhân
2.3. Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân: 31 anh hùng
| STT | Tên dùng | Quê quán | Tóm tắt lý lịch |
| 1 | Lương Văn Biêng | Quan Hóa | Lương Văn Biêng (1949 - 1993), quê Bản Ken, xã Nam Động (nay là Bản Ken 1, xã Nam Tiến, huyện Quan Hóa). Ông nhập ngũ tháng 7/1967 khi ông 18 tuổi, trong thời gian tham gia kháng chiến do có nhiều thành tích trong chiến đấu ông được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ vào ngày 15/01/1976 khi ông 27 tuổi. Sau đó, ông cùng gia đình chuyển vào Nam sinh sống. Do vết thương cũ tái phát và mắc bệnh hiểm nghèo, ông đã mất năm 1993 tại Đăk Lăk khi ông mới 44 tuổi. |
| 2 | Lê Xuân Bồng | Hoằng Hóa | Lê Xuân Bồng (1947 - 1995), quê xã Hoằng Thịnh, huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ tháng 2/1965, có nhiều thành tích trong chỉ huy và chiến đấu, ngày 15/1/1976, ông được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống đế quốc Mỹ. Ông mất năm 1995. |
| 3 | Lò Văn Bường | Thường Xuân | Lò Văn Bường (1924 - 2019), quê thôn Cộc Chẻ, Xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, ông là người dân tộc Thái. Năm 1948, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, ông từng giữ chức Trung đội Phó bộ binh thuộc đoàn 335, bộ đội tình nguyện, hoạt động tại miền Tây giúp bạn. Năm 1956, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ông là cựu chiến binh lao động sản xuất giỏi. Ông mất năm 2019. |
| 4 | Lê Đình Chinh | Thành phố Thanh Hóa | Lê Đình Chinh (1960 - 1978), quê xã Hoằng Quang (nay là thành phố Thanh Hóa). Lê Đình Chinh sớm tham gia lực lượng công an vũ trang, ông hy sinh trong trận gây rối ở biên giới phía Bắc, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên phòng Ải Bắc. Ngày 31/12/1978, được truy tặng danh hiệu là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. |
| 5 | Lê Văn Đa | Thạch Thành | Lê Văn Đa (1948 - 1969), quê huyện Thạch Thành. Ông nhập ngũ tháng 4 năm 1967, hy sinh ngày 22 tháng 02 năm 1969. Cấp bậc, chức vụ khi hy sinh: Thượng sĩ - Trung đội trưởng đội đặc công nước Thị đội Hội An (Quảng Nam), hy sinh trong trận đánh vào trung tâm nội ô tiêu diệt cơ quan đầu não của Mỹ ngụy tại Hội An, Quảng Nam. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2018. |
| 6 | Trần Quang Đắp | Thiệu Hóa | Trần Quang Đắp (1946 - 1967), quê xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa. Nhập ngũ tháng 4/1965; Đơn vị đại đội 21 trinh sát, Trung đoàn 165, sư đoàn 7, Quân đoàn 4. Hy sinh ngày 21/11/1967. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân theo Quyết định số 803/QĐ ngày 25/4/2013 của Chủ tịch nước. |
| 7 | Mai Văn Dậu | Nga Sơn | Mai Văn Dậu (1923 - 2018), quê thôn Hợp Long 1, xã Nga Trường, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2018. |
| 8 | Bùi Ngọc Đủ | Quảng Xương | Bùi Ngọc Đủ (1942 - 2017), quê xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương. Năm 1961, ông nhập ngũ đi B và được biên chế vào Tiểu đoàn 10, Trung đoàn 821, Sư đoàn 324. Suốt từ đó đến năm 1969, ông cùng đồng đội tham gia gần 100 trận đánh trên các chiến trường, lập nhiều chiến công, được tặng nhiều huân - huy chương các loại. Năm 1970, ông vào chiến trường Tây Nguyên. Ngày 24/2/1972, ông chỉ huy tiểu đoàn pháo binh 2 đánh vào Đăk Tô - Tân Cảnh. Ngày 20/4/1975, ông cùng sư đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh vào Bình Phước, Củ Chi và giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, là Thiếu tá làm Phó ban Tổ chức huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Sau đó, ông giữ nhiều chức vụ khác nhau và chỉ huy 17 trận đánh với Fulrô. Năm 1995, ông nghỉ hưu, làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội khuyến học huyện Mang Yang. Ông Bùi Ngọc Đủ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000. Ông mất năm 2017. |
| 9 | Nguyễn Minh Đức | Hoằng Hóa | Nguyễn Minh Đức (1918 - 1967), quê xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa. Ông là Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân thời kỳ chống đế quốc Mỹ. |
| 10 | Phạm Viết Đức | Hoằng Hóa | Phạm Viết Đức (1936 - 2022), quê xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ năm 1956, công tác trong Nhà máy Q159 chuyên sản xuất phụ tùng sửa chữa xe máy. Với tinh thần lao động hăng say, đồng chí đã có nhiều sáng kiến tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật liệu và bảo vệ trang thiết bị nhà máy. Ngày 1/10/1971, đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân. |
| 11 | Lưu Thế Hà | Yên Định | Lưu Thế Hà (1961 - 1981), quê xã Yên Bái, nay là Yên Trường, huyện Yên Định, ông sinh ra trong gia đình cán bộ (Bố là phó hiệu trưởng trường cấp 3, các anh chị là cán bộ ở nhiều ngành). Học xong cấp 3, ông tham gia lực lượng an ninh vũ trang và công tác tại tỉnh Lâm Đồng. Qua quá trình công tác, ông được bầu là chiến sỹ thi đua của đơn vị. Năm 1981, ông được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân. |
| 12 | Lê Hữu Hãnh | Vĩnh Lộc | Lê Hữu Hãnh (1948 - 2018), quê huyện Vĩnh Lộc. Ông nguyên là phó tham mưu trưởng lữ đoàn 229 - Bộ tư lệnh công binh. Ông được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, huân chương chiến công hạng Nhất, huân chương chiến công hạng Nhì, huân chương chiến công hạng Ba, huy chương quân kỳ chiến thắng, huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba. |
| 13 | Lê Trọng Huyên | Thiệu Hóa | Lê Trọng Huyên (1934 - 1972), quê huyện Thiệu Hóa, là thiếu tá phi công hy sinh trong khi đang thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trên bầu trời miền Bắc với máy bay Mỹ. Ông đã được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tại Quyết định số 161/KT-CTN ngày 28/4/2020, ông là 1 trong khoảng 20 người là anh hùng liệt sĩ trong số hơn 80 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là người Thanh Hóa. |
| 14 | Lê Hỷ | Thạch Thành | Lê Hỷ (1935 - 2022), quê khu phố 1 Liên Sơn, thị trấn Kim Tân (trước đây là Thôn 1 Liên Sơn, xã Thành Kim), huyện Thạch Thành. Nguyên quán: xã Hoằng Đại, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Tháng 01 năm 1954, ông nhập ngũ. Năm 1966, ông cùng đơn vị được điều vào chiến trường Quảng Trị (Vĩnh Linh) để nghiên cứu đánh B52. Ngày 17/9/1967, ông cùng đồng đội thuộc Trung đoàn 238 đã bắn rơi được chiếc B52 đầu tiên, trong đó ông là người trực tiếp đã phóng 02 quả tên lửa vào mục tiêu. Ngày 22/12/1967, đơn vị ông bắn rơi thêm 01 chiếc B52, tổng cộng đã bắn rơi 6 máy bay ở Vĩnh Linh, trong đó ông tham gia bắn rơi được 04 máy bay B52. Ông đã được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2015. |
| 15 | Hà Văn Kẹp | Bá Thước | Hà Văn Kẹp (1942 - 2021), quê xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước; ông là người dân tộc Thái, nhập ngũ tháng 02/1961. Khi được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ông là Chuẩn úy, Trung đội phó trinh sát thuộc Tiểu đoàn 923, Đoàn 959 (Bộ đội tình nguyện giúp Lào), Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 01/01/1967. |
| 16 | Cao Văn Khang | Hoằng Hóa | Cao Văn Khang (1944 - 1987), quê xã Hoằng Khánh (nay là Hoằng Xuân), huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ tháng 4/1963, trong công tác, đồng chí đã không sợ hy sinh, nguy hiểm, cùng tổ công binh 3 người do ông phụ trách tháo gỡ được 715 quả bom và bom nổ chậm, trong đó có 50 quả bom tạ trong vòng 16 tháng, đã thu hàng tấn thuốc nổ cho đơn vị. Đặc biệt là người tìm tòi nghiên cứu, tháo gỡ được loại bom bi, rồi phổ biến kinh nghiệm đi các nơi, trong khi chỉ mới biết trên lý thuyết một số loại bom cũ. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba và được bầu là chiến sỹ thi đua của đơn vị. Ngày 1 tháng 1 năm 1967, đồng chí Cao Văn Khang được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. |
| 17 | Nguyễn Đình Khơi | Yên Định | Nguyễn Đình Khơi (1951 - 1978), quê huyện Yên Định, nay là thị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, ông là liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, có hai Huân chương chiến công hạng Ba, một Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba, truy tặng Huân chương chiến công hạng Nhì, đã hy sinh ngày 17 tháng 11 năm 1978 tại mặt trận Tây Nam Tổ quốc. |
| 18 | Nguyễn Ngọc Khuyến | Hậu Lộc | Nguyễn Ngọc Khuyến (1949 - 2007), quê xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc. Ông là người lính cao xạ, có mặt trên nhiều chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ, ở những trận địa ác liệt nhất như Cầu Ghép, Hoàng Mai, Bến Thủy, Ngã Ba Đồng Lộc, đường 9 Nam Lào, Huế, Quảng Trị, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông cùng đồng đội bắn rơi 12 máy bay Mỹ, bắt sống 2 phi công, được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba, Huy hiệu Bác Hồ, ba lần là Chiến sỹ quyết thắng. Ngày 01/11/1971, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2007. |
| 19 | Lê Hữu Kiển | Quảng Xương | Lê Hữu Kiển tức Lê Quốc Bảo (1925 - 2006), quê xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương. Ông nhập ngũ tháng 10/1954 liên tục chiến đấu ở chiến trường khu V đến tháng 5/1959 trở lại chiến trường Tây Nguyên. Từ năm 1959 - 1965 phụ trách đội vũ trang tuyên truyền, với cương vị chỉ huy trưởng đã chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương nhanh chóng phát triển lực lượng, tích cực đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên, hỗ trợ đắc lực cho phong trào quần chúng nổi dậy diệt ác ôn. Lê Hữu Kiển được tặng 02 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua. Lê Hữu Kiển được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất tại Đắk Lắk. |
| 20 | Hoàng Văn Kỹ | Hoằng Hóa | Hoàng Văn Kỹ (1939 - 1967), quê quán xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa. Ông bắn rơi 4 máy bay Mỹ, hy sinh trong trận đánh không cân sức ngày 5/6/1967 với máy bay Mỹ trên vùng trời Vĩnh Phúc, là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống đế quốc Mỹ. |
| 21 | Đặng Đình Lống | Thị xã Nghi Sơn | Đặng Đình Lống (1942 - 1964), quê phường Hải Châu, nay là thị xã Nghi Sơn. Ông là liệt sỹ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được phong tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2005. |
| 22 | Phan Bá Mạnh | Nông Cống | Phan Bá Mạnh (1952 - 1979), quê huyện Nông Cống. Liệt sĩ Phan Bá Mạnh, trung úy, đại đội trưởng Đại đội 10 bộ binh Lạng Sơn, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông lập được nhiều thành tích trong công cuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống bọn xâm lược mới ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc. Ông được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1979. |
| 23 | Tống Xuân Nhuận | Nông Cống | Tống Xuân Nhuận (1922 - 1996), quê xã Trường Trung, huyện Nông Cống, được truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông từng giữ Phó Ty Công an Thanh Hoá (1959 - 1967), Trưởng Ty Công an Thanh Hóa (4/1979 - 1981), Giám đốc Công an tỉnh Thanh Hoá (1981 - 6/1988). |
| 24 | Ngô Khắc Quyền | Thường Xuân | Ngô Khắc Quyền (1956 - 1978), quê quán xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân. Ông là trung sĩ, trung đội trưởng bộ binh, đại đội 2, tiểu đoàn 1, trung đoàn 273, sư đoàn 341, quân đoàn 4. Từ tháng 9/1977 đến ngày 18/7/1978, ông chiến đấu ở biên giới Tây Nam, tham gia chiến đấu trên 80 trận, diệt 35 tên địch, thu 40 khẩu súng các loại. Ngày 18/7/1978, tại trận đánh ở Búa Lớn (Tây Ninh) ông bị thương nặng hy sinh tại tỉnh Tây Ninh. Năm 1981 ông được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Ông hy sinh ngày 18/7/1978 tại mặt trận biên giới Tây Nam. |
| 25 | Ngô Văn Tác | Yên Định | Ngô Văn Tác (1939 - 2014), quê xã Định Hòa, huyện Yên Định. Năm 1959 nhập ngũ vào bộ đội, là Trung úy, trưởng xe kiêm sỹ quan điều khiển thuộc tiểu đoàn 71 tên lửa, trung đoàn 285, sư đoàn 369, quân chủng phòng không, không quân. Ông tham gia chiến đấu 44 trận ở nhiều tỉnh miền Bắc góp phần bắn rơi 22 máy bay Mỹ, chống lại tên lửa Sơ - rai của địch dùng để phá tên lửa của ta, ba lần đạt Chiến sỹ thi đua, hai lần Chiến sỹ quyết thắng. Năm 1969, ông được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2014. |
| 26 | Hà Văn Thanh | Thường Xuân | Hà Văn Thanh (1948 - 2002), quê xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân; là người dân tộc Thái, ông tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông là Đảng viên, thượng sĩ, Trung đội phó Đại đội 11 ô tô vận tải, Tiểu đoàn 51, binh trạm 34, đoàn 559. Từ năm 1969 đến năm 1972, ông lái xe vận chuyển đến tuyến đường 559. Trong suốt những năm tháng trên chiến trường, ông đã lái 38.221 km an toàn, ông được tặng thưởng 3 huân chương chiến công hạng 3, 2 lần là Chiến sĩ quyết thắng, 5 lần là Chiến sĩ thi đua, 42 bằng khen. Với nhiều chiến công xuất sắc, ngày 3 tháng 9 năm 1973, ông được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong chống Mỹ cứu nước tại Quyết định số 324/SV ngày 03/9/1973 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ông mất năm 2002. |
| 27 | Nguyễn Văn Thất | Quảng Xương | Nguyễn Văn Thất (1955 - 1975), quê xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương. Ông là Chiến sỹ Đại đội 1, Z23, Lữ đoàn 136, Đặc công biệt động, Bộ Tham mưu Miền Quân khu 7, hy sinh năm 1975. Do lập được nhiều chiến công, nhất là trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 09/10/2014 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Liệt sỹ Nguyễn Văn Thất tại Quyết định số: 2557/QĐ-CTN ngày 09/10/2014. |
| 28 | Lê Thụy (tức Lê Hữu Thúy) | Hoằng Hóa | Lê Thụy (1926 - 2000) (tức Lê Hữu Thúy), quê xã Hoằng Quang, Hoằng Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa), là một tình báo viên chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông đã được nhà nước Việt Nam trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1996. |
| 29 | Phạm Văn Tiềm | Thị xã Nghi Sơn | Phạm Văn Tiềm (1952 - 1973), quê phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn ngày nay, ông là liệt sỹ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2013. |
| 30 | Lê Văn Trung | Thiệu Hóa | Lê Văn Trung (1928 - 2022), quê xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Hóa, nhập ngũ tháng 11/1966. Ông đã từng đảm nhận cấp bậc chuẩn úy, trạm trưởng sửa chữa xe máy thuộc Trung đoàn 216, Bộ tư lệnh công binh. Từ năm 1966 đến 1978, làm nhiệm vụ sửa chữa ô tô, xe máy phục vụ đơn vị chiến đấu và công tác ở nước bạn Lào. Ông được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, 5 lần được bầu là Chiến sĩ quyết thắng, 10 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 6/11/1978. |
| 31 | Lê Văn Ức | Hoằng Hóa | Lê Văn Ức (1950 - 2021), quê xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa. Nhập ngũ năm 1968, có nhiều công lao trong chỉ huy, chiến đấu và bảo vệ lực lượng đảm bảo an toàn khi địch bắn phá ác liệt. Ngày 20/9/1971, đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. |
2.5. Anh hùng lao động: 01 anh hùng
| STT | Tên dùng | Quê quán | Tóm tắt lý lịch |
| 1 | Nguyễn Văn Huê | Nông Cống | Nguyễn Văn Huê (1926 - 2018), quê Trường Trung, huyện Nông Cống. Ông là Nhà giáo tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung, Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng ông đã xây dựng Trường cấp 1 Hải Nhân (Tĩnh Gia) trở thành lá cờ đầu phong trào thi đua yêu nước trong hệ thống trường phổ thông toàn miền Bắc, năm 1967, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa III, IV, V. |
PHỤ LỤC II
SỬA ĐỔI PHỤ LỤC NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG, PHỐ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA BAN HÀNH KÈM THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 90/2017/NQ-HĐND NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 2017 CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
(Kèm theo Nghị quyết số 33/2024/NQ-HĐND ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
(Tổng số: 22 tên)
[2] Tại mục này, cơ quan thường trực đang tập hợp đề xuất đưa vào tổng số các tên phủ, tổng, châu có trong sách Đồng Khánh địa dư chí. Cụ thể, theo Đồng Khánh địa dư chí có: 05 phủ (phủ Hà Trung, phủ Thiệu Hóa, phủ Tĩnh Gia, phủ Quảng Hóa, phủ Thọ Xuân). Hiện tại 01 phủ: Quảng Hóa không còn được dùng, tuy nhiên đã có trong Nghị Quyết số 90/2017/NQ-HĐND, 03 phủ hiện dùng tên của các huyện, thị; 01 phủ Tĩnh Gia đã không còn tên do sáp nhập. Cơ quan thường trực đề xuất đưa tên Tĩnh Gia vào); có 128 tổng, trong đó có 03 tổng đến nay thuộc địa danh hành chính Lào (tổng Trình Cố; tổng Chấp Yết; tổng Trình Phủ); bổ sung vào lần này 90 tên tổng; 31 tên tổng hiện một số có tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND; 02 tên tổng hiện đang là tên đơn vị hành chính cấp huyện (tổng Ngọc Lặc, tổng Yên Định); Có 19 châu, huyện, trong đó đưa vào 05 châu, huyện (Mỹ Hóa, Thụy Nguyên, Quảng Tế, Lôi Dương, Lương Chánh); có 02 tên đã có Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND, 12 tên hiện các đơn vị hành chính cấp huyện, thị đang dùng (huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Xương, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Quan Hóa, Cẩm Thủy, Thường Xuân).
[10] Vạn Lai - Yên Trường: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 247/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
[123] Nam Khê đã được đặt tên tại Nghị quyết số 142/NQ-HĐND ngày 13/12/2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc đặt tên các cầu lớn vượt qua các sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa.
[125] Năm 1221, làng Bồ Điền được đổi tên thành làng Phú Điền. Làng Phú Điền được phân chia thành 12 ngõ lát đá, được đặt tên từng ngõ gồm: Ngõ Chùa, Ngõ Củi, Ngõ Liễu, Ngõ Mạc, Ngõ Nang, Ngõ Nhãn, Ngõ Nhồi, Ngõ Thị, Ngõ Bồ Ngòn, Ngõ Củng, Ngõ Y Môn lớn, Ngõ Y Môn bé. (Theo Lịch làng Phú Điền, trang 3).
[132] Bảo Ninh Lương: Đã được đặt tên tại Nghị quyết số 277/NQ-HĐND ngày 16/6/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc đặt tên đường trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh.
[136] Từ Đoàn kết đã có trong Ngân hàng tên tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND mục là danh từ có ý nghĩa, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện Mường Lát muốn dùng từ Đoàn Kết với vai trò là 1 địa danh, tên dùng đặt là Bản Đoàn Kết.
[151] Di tích cấp tỉnh, tuy nhiên đây là địa chỉ cách mạng có ý nghĩa, địa danh nhiều người biết đến nên đề xuất đưa vào.
[152] Từ Vinh Quang đã có trong Ngân hàng tên tại Nghị quyết số 90/2017/NQ-HĐND mục là danh từ có ý nghĩa, tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện Quan Hóa muốn dùng từ Vinh Quang với vai trò là 1 địa danh, tên dùng đặt là Hồ Vinh Quang.
[214] Ngày 08/5 (dương lịch) hằng năm là ngày kỷ niệm Danh xưng Thanh Hóa được ban hành tại Nghị quyết số 112/NQ-HĐND ngày 11/7/2018.
[216] Dẫn nguồn theo dịch thuật lý lịch tại văn bia đặt tại đền thờ Tướng quân Khằm Ban thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa. Phạm Tộc thần từ bi dựng niên hiệu Duy Tân thứ 1 năm 1907 hiện dựng ở đền thờ.
| Số hiệu | 33/2024/NQ-HĐND |
|---|---|
| Loại văn bản | Nghị quyết |
| Lĩnh vực | Tài chính – Ngân hàng |
| Ngày ban hành | 10/07/2024 |
| Ngày hiệu lực | 20/07/2024 |
| Nơi ban hành | Tỉnh Thanh Hóa |
| Người ký | Đỗ Trọng Hưng |
| Tình trạng | Chưa xác định |
Tóm tắt mang tính tham khảo.
Bản tóm tắt của văn bản này đang được hệ thống A.I xử lý. Quý khách vui lòng chọn tab Nội dung hoặc các tab khác ở trên để tra cứu.
- Quyết định 3247/QĐ-BVHTTDL năm 2016 công bố di sản văn hóa phi vật thể quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
- Nghị quyết 142/NQ-HĐND năm 2018 về đặt tên các cầu lớn vượt qua sông thuộc tuyến đường bộ ven biển Việt Nam đoạn qua tỉnh Thanh Hóa
- Nghị quyết 786/NQ-UBTVQH14 năm 2019 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- Quyết định 1954/QĐ-TTg năm 2019 về xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt do Thủ Tướng Chính phủ ban hành
- Nghị quyết 933/NQ-UBTVQH14 năm 2020 về thành lập thị xã Nghi Sơn và các phường thuộc thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- Nghị quyết 277/NQ-HĐND năm 2020 về đặt tên đường trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa