Nghị định 136/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 100/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (đã được sửa đổi tại Nghị định 261/2025/NĐ-CP và Nghị định 54/2026/NĐ-CP)
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 136/2026/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 07 tháng 4 năm 2026 |
NGHỊ ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 100/2024/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 7 NĂM 2024 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NHÀ Ở VỀ PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ NHÀ Ở XÃ HỘI (ĐÃ ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TẠI NGHỊ ĐỊNH SỐ 261/2025/NĐ-CP VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 54/2026/NĐ-CP)
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Nhà ở số 27/2023/QH15; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP).
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 100/2024/NĐ-CP sửa đổi)
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 30 như sau:
“Điều 30. Điều kiện về thu nhập
1. Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:
a) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
b) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
c) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm a, điểm b khoản này là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
d) Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bàn, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 67 như sau:
“1. Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận.
2. Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật:
a) Người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó đều thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 2,0 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận;
b) Vợ (chồng) của người đứng đơn không thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) cộng với mức lương quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định này được cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp vợ (chồng) của người đứng đơn thuộc đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở trong trường hợp không có Hợp đồng lao động thì thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định này.”
3. Sửa đổi, bổ sung Mẫu số 01 tại Phụ lục II (đơn đăng ký mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội).
Điều 2. Điều khoản chuyển tiếp
Các giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được sử dụng và có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được xác nhận.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 07 tháng 04 năm 2026.
Điều 4. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
1. Bộ trưởng Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.
|
| TM. CHÍNH PHỦ |
Phụ lục
(Kèm theo Nghị định số 136/2026/NĐ-CP ngày 07 tháng 4 năm 2026 của Chính phủ)
Mẫu số 01. Đơn đăng ký mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
ĐƠN ĐĂNG KÝ MUA, THUÊ MUA, THUÊ NHÀ Ở XÃ HỘI
Hình thức đăng ký[1]: Mua □ Thuê mua □ Thuê □
1. Kính gửi[2]: ……………………………………………………………...
2. Họ và tên người viết đơn: ……………………………………………..
3. Căn cước công dân số …............... cấp ngày ......../........../.......... tại…....
4. Nghề nghiệp[3]…………………………………………………………...
5. Nơi làm việc[4]: …….…………………………………………………....
6. Thuộc đối tượng[5]: ……………………………………………………
7. Thực trạng về nhà ở của tôi như sau:
| 7.1. Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình | □ |
| 7.2. Có nhà ở nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15 m2 sàn/người[6] | □ |
8. Tôi có mức thu nhập hàng tháng là:
8.1. Đối với đối tượng quy định tại khoản 5, khoản 6 và khoản 8 Điều 76 của Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2023[7] thì đánh dấu vào một trong hai ô dưới đây:
| - Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận[8]. | □ |
| - Trường hợp đối tượng là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận[9]. | □ |
| - Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận[10]. | □ |
8.2. Đối với đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở[11] thì đánh dấu vào một trong hai ô dưới đây:
| - Trường hợp là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận. | □ |
| - Trường hợp đã kết hôn theo quy định của pháp luật: |
|
| + Tôi và vợ (chồng) tôi đều thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 2,0 lần tổng thu nhập của sĩ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận. | □ |
| + Vợ (chồng) tôi không thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) cộng với mức lương (thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận) không quá 25 triệu đồng được cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận. | □ |
9. Tôi chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.
Tôi xin cam đoan những lời khai trong đơn là đúng sự thực và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã kê khai. Khi được giải quyết[12]…….................................. . nhà ở xã hội, tôi cam kết chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng nhà ở xã hội.
|
| ........., ngày ........ tháng ....... năm ....... |
_____________________
[1] Đánh dấu vào ô mà người viết đơn có nhu cầu đăng ký.
[2] Ghi tên chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.
[3] Nếu đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ghi rõ nghề nghiệp, nếu là lao động tự do thì ghi là lao động tự do, nếu đã nghỉ hưu thì ghi đã nghỉ hưu...
[4] Nếu đang làm việc thì mới ghi vào mục này, trừ đối tượng là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác.
[5] Ghi rõ người có đơn thuộc đối tượng theo quy định được hỗ trợ nhà ở xã hội.
[6] Đối với trường hợp độc thân: diện tích nhà ở bình quân đầu người đối với người đó.
Đối với trường hợp hộ gia đình: diện tích nhà ở bình quân đầu người đối với người đề nghị xác nhận, vợ/chồng người đề nghị xác nhận (nếu có), cha, mẹ của người đề nghị xác nhận bao gồm cả cha, mẹ vợ/chồng của người đó (nếu có) và các con của người đề nghị xác nhận (nếu có).
[7] Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị (khoản 5 Điều 76); công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp (khoản 6 Điều 76); cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức (khoản 8 Điều 76).
[8] Trường hợp đối tượng là người thu nhập thấp khu vực đô thị không có hợp đồng lao động, nếu là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng. Cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú/tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận xác nhận điều kiện về thu nhập.
[9] Trường hợp đối tượng là người thu nhập thấp khu vực đô thị không có hợp đồng lao động, nếu là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng. Cơ quan Công an cấp xã nơi thường trú/tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận xác nhận điều kiện về thu nhập.
[10] Trường hợp đối tượng là người thu nhập thấp khu vực đô thị không có hợp đồng lao động, nếu đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng. Công an cấp xã nơi thường trú/tạm trú hoặc nơi ở tại thời điểm đối tượng đề nghị xác nhận xác nhận điều kiện về thu nhập.
[11] Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác (khoản 7 Điều 76).
[12] Ghi rõ hình thức được giải quyết chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội (mua, thuê mua, thuê).
| Số hiệu | 136/2026/NĐ-CP |
|---|---|
| Loại văn bản | Nghị định |
| Lĩnh vực | Đất đai – Xây dựng |
| Ngày ban hành | 07/04/2026 |
| Ngày hiệu lực | 10/07/2026 |
| Nơi ban hành | Chính phủ |
| Người ký | Trần Hồng Hà |
| Tình trạng | Chưa xác định |
Tóm tắt mang tính tham khảo.
Nghị định 136/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP). Nghị định này tập trung điều chỉnh, nới rộng các điều kiện về thu nhập đối với các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tiếp cận nhà ở. Phạm vi và đối tượng áp dụng Nghị định áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình phát triển, quản lý nhà ở xã hội; đặc biệt là các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội quy định tại các khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở (bao gồm người thu nhập thấp, công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang...). Nội dung cốt lõi của Nghị định 136/2026/NĐ-CP 1. Sửa đổi điều kiện về thu nhập đối với các đối tượng thông thường Nghị định đã điều chỉnh cụ thể mức thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở như sau: Đối với người độc thân: Người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân phải có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng, tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi làm việc xác nhận. Đối với người độc thân nuôi con nhỏ: Trường hợp người đứng đơn chưa kết hôn hoặc độc thân nhưng đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì mức thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận được nâng lên không quá 35 triệu đồng. Đối với người đã kết hôn: Người đứng đơn và vợ (chồng) phải có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng, dựa trên xác nhận của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi hai vợ chồng làm việc. Thời gian xác định thu nhập: Được tính trong vòng 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận điều kiện thu nhập. 2. Sửa đổi điều kiện về thu nhập đối với lực lượng vũ trang Đối với nhóm đối tượng thuộc lực lượng vũ trang quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở, điều kiện thu nhập được xác định dựa trên mức lương của sỹ quan cấp bậc hàm Đại tá: Trường hợp người đứng đơn độc thân: Thu nhập hàng tháng thực nhận không vượt quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (bao gồm lương cơ bản, các khoản phụ cấp theo quy định và phụ cấp khu vực tại các địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo) do cơ quan, đơn vị quản lý xác nhận. Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn: Nếu cả hai vợ chồng đều thuộc đối tượng lực lượng vũ trang (khoản 7 Điều 76 Luật Nhà ở): Tổng thu nhập hàng tháng thực nhận của cả hai không quá 2,0 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá. Nếu vợ (chồng) của người đứng đơn không thuộc đối tượng lực lượng vũ trang: Tổng thu nhập hàng tháng thực nhận của hai vợ chồng không quá tổng thu nhập của sỹ quan cấp Đại tá cộng với mức thu nhập tối đa của người độc thân thông thường (không quá 25 triệu đồng). Trường hợp vợ (chồng) thuộc đối tượng thu nhập thấp (khoản 5 Điều 76 Luật Nhà ở) nhưng không có hợp đồng lao động thì thực hiện xác nhận điều kiện thu nhập theo quy định chung tại khoản 2 Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP. 3. Phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Để đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với thực tiễn từng địa phương, Nghị định cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế để quyết định các chính sách đặc thù: Quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập đối với các đối tượng thông thường nhưng không được vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước. Quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với các hộ gia đình được hưởng chính sách hỗ trợ có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình. 4. Sửa đổi biểu mẫu đăng ký Nghị định thực hiện sửa đổi, bổ sung Mẫu số 01 tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 100/2024/NĐ-CP, đây là mẫu đơn đăng ký mua, thuê mua, thuê nhà ở xã hội mới nhất áp dụng cho người dân khi thực hiện thủ tục hành chính. Điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành Điều khoản chuyển tiếp: Các giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập để hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục được sử dụng và giữ nguyên giá trị trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được xác nhận. Hiệu lực thi hành: Nghị định 136/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 07 tháng 04 năm 2026. Trách nhiệm thực hiện: Bộ trưởng Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan có trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định.
- Nghị quyết 7/NQ-CP năm 2026 giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026-2030 do Chính phủ ban hành
- Nghị định 100/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội
- Nghị định 261/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 100/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và Nghị định 192/2025/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết 201/2025/QH15 thí điểm về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội
- Luật Nhà ở 2023
- Luật sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Các tổ chức tín dụng 2024
- Luật Tổ chức Chính phủ 2025
- Nghị định 54/2026/NĐ-CP sửa đổi các Nghị định trong lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản