Nghị định 100/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 56/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 100/2025/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 08 tháng 5 năm 2025 |
NGHỊ ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 56/2025/NĐ-CP NGÀY 03 THÁNG 3 NĂM 2025 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐIỆN LỰC VỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC, PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI CẤP ĐIỆN, ĐẦU TƯ XÂY DỰNG DỰ ÁN ĐIỆN LỰC VÀ ĐẤU THẦU LỰA CHỌN NHÀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN KINH DOANH ĐIỆN LỰC
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 30 tháng 11 năm 2024;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP
1. Sửa đổi, bổ sung tên Điều 15 như sau:
“Điều 15. Cơ chế bảo đảm tiêu thụ nguồn khí thiên nhiên khai thác trong nước; nguyên tắc chuyển ngang giá nhiên liệu sang giá điện và sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn cho các dự án nhiệt điện khí”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 và khoản 4 như sau:
“3. Cơ chế phát triển các dự án nhiệt điện khí sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước
a) Các dự án nhiệt điện khí sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước được vận hành, huy động ở mức tối đa theo khả năng cấp khí, đáp ứng các yêu cầu ràng buộc về nhiên liệu, công suất và sản lượng phát điện khả dụng của dự án nhiệt điện khí, nhu cầu và ràng buộc kỹ thuật của hệ thống điện quốc gia;
b) Quy định tại điểm a khoản này áp dụng cho các dự án nhiệt điện khí được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra văn bản thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình của chủ đầu tư và bắt đầu vận hành phát điện bằng khí thiên nhiên khai thác trong nước trước ngày 01 tháng 01 năm 2036. Việc áp dụng cơ chế quy định tại điểm a khoản này được tiếp tục áp dụng cho đến thời điểm nhà máy nhiệt điện khí không còn sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước cho phát điện;
c) Trường hợp khả năng cấp khí thiên nhiên khai thác trong nước không đáp ứng được nhu cầu phát điện của dự án nhà máy nhiệt điện khí, Bên bán điện và Bên mua điện thỏa thuận, thống nhất phương án sử dụng nhiên liệu và giá điện trong hợp đồng mua bán điện theo quy định hiện hành.
4. Cơ chế phát triển các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu:
Sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn của dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu được Bên bán điện và Bên mua điện thỏa thuận, thống nhất trong hợp đồng mua bán điện bảo đảm các nguyên tắc sau:
a) Sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn không thấp hơn mức 65% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án nhiệt điện khí. Sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn được áp dụng trong thời hạn trả nợ gốc và lãi vay nhưng không quá 10 năm kể từ ngày đưa dự án vào vận hành phát điện;
b) Sau thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn, sản lượng điện hợp đồng hoặc tỷ lệ điện năng thanh toán theo giá hợp đồng cho các năm còn lại được Bên bán điện và Bên mua điện thống nhất trong quá trình đàm phán, thỏa thuận hợp đồng mua bán điện theo các quy định có liên quan;
c) Sản lượng điện phát bình quân nhiều năm được xác định theo Quy định phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện; nguyên tắc tính giá điện để thực hiện dự án điện lực; nội dung chính của hợp đồng mua bán điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành và quy định trong hợp đồng mua bán điện.
d) Quy định tại điểm a, b và c khoản này áp dụng cho các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra văn bản thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình của chủ đầu tư và bắt đầu vận hành phát điện bằng LNG nhập khẩu trước ngày 01 tháng 01 năm 2031.”
3. Sửa đổi điểm a khoản 5 như sau:
“a) Đàm phán, thỏa thuận thống nhất các nội dung cụ thể trong hợp đồng mua bán điện tuân thủ các quy định tại Điều này và quy định khác của pháp luật có liên quan;”
4. Sửa đổi điểm a khoản 6 như sau:
“a) Lập kế hoạch vận hành hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện cạnh tranh bảo đảm tuân thủ các quy định tại Điều này và quy định của pháp luật về vận hành thị trường điện cạnh tranh các cấp độ và vận hành, điều độ hệ thống điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành;”
Điều 2. Điều khoản thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
|
| TM. CHÍNH PHỦ |
| Số hiệu | 100/2025/NĐ-CP |
|---|---|
| Loại văn bản | Nghị định |
| Lĩnh vực | Đất đai – Xây dựng |
| Ngày ban hành | 08/05/2025 |
| Ngày hiệu lực | 08/05/2025 |
| Nơi ban hành | Chính phủ |
| Người ký | Bùi Thanh Sơn |
| Tình trạng | Chưa xác định |
Tóm tắt mang tính tham khảo.
Nghị định 100/2025/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực. Văn bản này tập trung điều chỉnh các cơ chế cốt lõi liên quan đến việc bảo đảm tiêu thụ nguồn khí thiên nhiên khai thác trong nước, nguyên tắc chuyển ngang giá nhiên liệu sang giá điện và quy định sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn cho các dự án nhiệt điện khí. Phạm vi và đối tượng áp dụng Nghị định áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng, vận hành dự án nhiệt điện khí sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước hoặc khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu; các đơn vị mua bán điện, đơn vị vận hành hệ thống điện và điều hành giao dịch thị trường điện lực tại Việt Nam. Cơ chế phát triển các dự án nhiệt điện khí sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước Các dự án nhiệt điện khí sử dụng nguồn khí thiên nhiên khai thác trong nước được ưu tiên vận hành, huy động ở mức tối đa theo khả năng cấp khí thực tế của nguồn cấp. Việc huy động này phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu ràng buộc về nhiên liệu, công suất, sản lượng phát điện khả dụng của nhà máy, đồng thời phù hợp với nhu cầu thực tế và các ràng buộc kỹ thuật của hệ thống điện quốc gia. Cơ chế ưu tiên huy động tối đa nêu trên được áp dụng cho các dự án nhiệt điện khí được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra văn bản thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình của chủ đầu tư và bắt đầu vận hành phát điện bằng khí thiên nhiên khai thác trong nước trước ngày 01 tháng 01 năm 2036. Việc áp dụng cơ chế này được tiếp tục thực hiện cho đến thời điểm nhà máy nhiệt điện khí không còn sử dụng khí thiên nhiên khai thác trong nước để phát điện. Trong trường hợp khả năng cấp khí thiên nhiên khai thác trong nước không đáp ứng được nhu cầu phát điện thực tế của dự án nhà máy nhiệt điện khí, Bên bán điện và Bên mua điện có trách nhiệm chủ động thỏa thuận, thống nhất phương án sử dụng nhiên liệu thay thế và giá điện tương ứng trong hợp đồng mua bán điện theo đúng các quy định pháp luật hiện hành. Cơ chế phát triển các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu Sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn của dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu do Bên bán điện và Bên mua điện thỏa thuận, thống nhất trong hợp đồng mua bán điện bảo đảm nguyên tắc không thấp hơn mức 65% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án. Sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn này được áp dụng trong thời hạn trả nợ gốc và lãi vay của dự án nhưng tối đa không quá 10 năm kể từ ngày đưa dự án vào vận hành phát điện thương mại. Sau thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn nêu trên, sản lượng điện hợp đồng hoặc tỷ lệ điện năng thanh toán theo giá hợp đồng cho các năm còn lại của dự án sẽ do Bên bán điện và Bên mua điện tiếp tục thống nhất trong quá trình đàm phán, thỏa thuận hợp đồng mua bán điện theo các quy định pháp luật có liên quan. Sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án được xác định cụ thể theo Quy định phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện; nguyên tắc tính giá điện để thực hiện dự án điện lực; nội dung chính của hợp đồng mua bán điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành và được quy định rõ trong hợp đồng mua bán điện của dự án. Cơ chế bảo đảm sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn đối với LNG nhập khẩu chỉ áp dụng cho các dự án nhiệt điện khí được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra văn bản thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình của chủ đầu tư và bắt đầu vận hành phát điện bằng LNG nhập khẩu trước ngày 01 tháng 01 năm 2031. Quy định về đàm phán hợp đồng mua bán điện và vận hành hệ thống điện Về đàm phán hợp đồng mua bán điện: Sửa đổi quy định yêu cầu các bên liên quan phải chủ động đàm phán, thỏa thuận thống nhất các nội dung cụ thể trong hợp đồng mua bán điện, bảo đảm tuân thủ nghiêm túc các cơ chế về tiêu thụ khí, chuyển ngang giá nhiên liệu và sản lượng điện hợp đồng tối thiểu theo quy định mới và các quy định pháp luật khác có liên quan. Về vận hành hệ thống và thị trường điện: Đơn vị vận hành hệ thống điện và điều hành giao dịch thị trường điện có trách nhiệm lập kế hoạch vận hành hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện cạnh tranh bảo đảm tuân thủ các quy định ưu tiên huy động nguồn khí và các ràng buộc hợp đồng. Quá trình này phải tuân thủ các quy định của pháp luật về vận hành thị trường điện cạnh tranh các cấp độ và vận hành, điều độ hệ thống điện do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành. Hiệu lực thi hành Nghị định 100/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
- Quyết định 618/QĐ-BCT năm 2025 phê duyệt cập nhật Kế hoạch thực hiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành
- Thông báo 126/TB-VPCP năm 2025 về Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn tại cuộc họp rà soát Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- Quyết định 768/QĐ-TTg năm 2025 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành