‹ Danh sách văn bản
6846/CT-QLNT Công văn Thuế – Phí – Lệ phí

Công văn 6846/CT-QLNT năm 2026 trả lời vướng mắc tại PAKN.20260827.0361 về giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân do Cục Thuế ban hành

Ban hành
15/09/2026
Hiệu lực
15/09/2026
Nơi ban hành
Cục Thuế
Người ký
Mạnh Thị Tuyết Mai
↓ Tải bản Word
Tham khảo chung

BỘ TÀI CHÍNH
CỤC THUẾ

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 6846/CT-QLNT
V/v trả lời vướng mắc tại PAKN.20260827.0361

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2026

 

Kính gửi: Ông/Bà Nguyễn Lâm Duy Tân
(Địa chỉ: Ấp Tân Bình 2A, xã Tân Thuận Bình, tỉnh Đồng Tháp).

Cục Thuế nhận được Đơn phản ánh kiến nghị (Mã số PAKN.20260827.0361) tiếp nhận ngày 28/8/2026 qua Dịch vụ công của Ông/Bà Nguyễn Lâm Duy Tân hỏi về giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân. Về vấn đề này, Cục Thuế có ý kiến như sau:

- Căn cứ khoản 4 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định về giảm trừ gia cảnh:

“Điều 10. Giảm trừ gia cảnh

…

4. Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:

a) Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;

b) Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.

- Căn cứ Điều 47 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định về giảm trừ gia cảnh:

“Điều 47. Giảm trừ gia cảnh

…

2. Đối tượng và căn cứ xác định người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng như sau:

…

d) Vợ hoặc chồng của người nộp thuế; cha đẻ, mẹ đẻ, cha dượng, mẹ kế, cha nuôi, mẹ nuôi theo quy định của pháp luật, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng) của người nộp thuế;

…

3. Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau:

a) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: Không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

b) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

4. Người không có khả năng lao động quy định tại Điều này là người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên xác định theo quy định của pháp luật.

5. Người nộp thuế tự đăng ký số lượng người phụ thuộc kèm theo giấy tờ hợp pháp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc đăng ký, thu nhập của người phụ thuộc.

6. Hồ sơ xác định người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.”

- Căn cứ Điều 3 Thông tư số 87/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số Điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân:

“Điều 3. Mức thu nhập làm căn cứ xác định người phụ thuộc mà người nộp thuế được áp dụng giảm trừ gia cảnh

1. Mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập của người phụ thuộc quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 của Luật Thuế thu nhập cá nhân và điểm c khoản 2, điểm a và điểm b khoản 3 Điều 47 của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP không vượt quá 03 triệu đồng.

2. Người nộp thuế chịu trách nhiệm về việc xác định người phụ thuộc không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức quy định tại khoản 1 Điều này và có trách nhiệm kê khai đúng, trung thực thu nhập của người phụ thuộc. Trường hợp trong quá trình thực hiện, cơ quan thuế phát hiện kê khai không đúng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp cha đẻ của người nộp thuế đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động thì mới được tính là người phụ thuộc để tính giảm trừ gia cảnh. Nếu cha đẻ của người nộp thuế vẫn trong độ tuổi lao động thì phải đáp ứng đồng thời các điều kiện: Không có khả năng lao động (người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên xác định theo quy định của pháp luật) và không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 03 triệu đồng thì mới được tính là người phụ thuộc để tính giảm trừ gia cảnh.

Do đó, trường hợp cha đẻ của Ông/Bà Nguyễn Lâm Duy Tân có thu nhập không vượt quá 03 triệu đồng/tháng nhưng chưa hết tuổi lao động và vẫn còn có khả năng lao động thì không được tính là người phụ thuộc để tính giảm trừ gia cảnh.

Cục Thuế thông báo để Ông/Bà Nguyễn Lâm Duy Tân được biết./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- PCTr. Lê Long (để b/c);
- Cổng Dịch vụ công Quốc gia;
- Ban Pháp chế;
- Website CT;
- Lưu: VT, QLNT (     b).

TL. CỤC TRƯỞNG
KT. TRƯỞNG BAN BAN QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN NGUỒN THU
PHÓ TRƯỞNG BAN




Mạnh Thị Tuyết Mai

 

Số hiệu6846/CT-QLNT
Loại văn bảnCông văn
Lĩnh vựcThuế – Phí – Lệ phí
Ngày ban hành15/09/2026
Ngày hiệu lực15/09/2026
Nơi ban hànhCục Thuế
Người kýMạnh Thị Tuyết Mai
Tình trạngTham khảo chung

Đây không phải văn bản quy phạm pháp luật, nên không đặt ra hiệu lực thi hành. Nhãn “Tham khảo chung” nghĩa là văn bản dùng để tham khảo cách cơ quan ban hành hiểu và áp dụng quy định, không phải căn cứ pháp lý để trích dẫn.

Tóm tắt

Tóm tắt mang tính tham khảo.

Bản tóm tắt của văn bản này đang được hệ thống A.I xử lý. Quý khách vui lòng chọn tab Nội dung hoặc các tab khác ở trên để tra cứu.